Kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật
QUYỂN THỨ MƯỜI BA

Hán dịch: Pháp Sư Cưu Ma La Thập
Việt dịch: Hòa Thượng Thích Trí Tịnh

PHẨM VÔ TÁC THỨ BỐN MƯƠI BA

          Ngài Tu Bồ Ðề thưa:
          - Bạch đức Thế-Tôn! Bát-Nhã ba la mật này kkhông sở tác!
          Ðức Phật nói:
          - Vì tác giả bất khả đắc. Vì sắc bất khả đắc nhẫn đến tất cả pháp bất khả đắc.
          Ngài Tu Bồ Ðề thưa:
          - Nếu đại Bồ-Tát muốn thật hành Bát-Nhã ba la mật thời phải thật hành thế nào?
          Ðức Phật nói:
          - Muốn thật hành Bát-Nhã ba la mật, đại Bồ-Tát chẳng hành nới sắc, chẳng hành nơi thọ tưởng hành thức, nhẫn đến chẳng hành nhứt thiết chủng trí, thời đó là thật hành Bát-Nhã ba la mật.
          Ðại Bồ-Tát, nơi sắc nhẫn đến  nhứt thiết chủng trí, chẳng hành thường hay vô thường, thời là thật hành Bát-Nhã ba la mật.
          Ðại Bồ-Tát, nơi sắc nhẫn đến nhứt thiết chủng trí, chẳng hành hoặc khổ hoặc vui, thời là thật hành Bát-Nhã ba la mật.
          Ðại Bồ-Tát, nơi sắc nhẫn đến nhứt thiết chủng trí, chẳng hành là ngã hay chẳng phải ngã, thời là thật hành Bát-Nhã ba la mật.
          Ðại Bồ-Tát, nơi sắc nhẫn đến nhứt thiết chủng trí, chẳng  hành tịnh hay bất tịnh, thời thật hành Bát-Nhã ba la mật.
          Tại sao vậy?
          Vì sắc thọ tưởng hành thức nhẫn đến nhứt thiết chủng trí đây vốn không có tánh, thời thế nào lại có thường, có vô thường, có khổ, có vui, có ngã, có chẳng ngã, có tịnh, có bất tịnh.
          Lại này Tu Bồ Ðề! Lúc thật hành Bát-Nhã ba la mật, đại Bồ-Tát chẳng hành sắc chẳng đầy đủ, nhẫn đến chẳng hành nhứt thiết chủng trí chẳng đầy đủ, thời là thật hành Bát-Nhã ba la mật.
          Tại sao vậy? Vì sắc chẳng đầy đủ thời chẳng gọi là sắc, như đây cũng chẳng hành thời là thật  hành Bát-Nhã ba la mật. Nhẫn đến nhứt thiết chủng trí chẳng đầy đủ thời chẳng gọi là nhứt thiết chủng trí, như đây cũng chẳng hành thời là thật hành Bát-Nhã ba la mật.
          Ngài Tu Bồ Ðề thưa:
          - Thật chưa từng có. Ðức Thế-Tôn khéo nói tướng dạng ngại cùng tướng dạng chẳng ngại của những thiện nam thiện nữ cầu đạo Bồ-Tát.
          Ðức Phật nói:
          - Ðúng như vậy. Phật khéo nói tướng dạng ngại cùng tướng dạng chẳng ngại của những thiện nam thiện nữ cầu đạo Bồ-Tát.
          Lại này Tu Bồ Ðề! Lúc thật hành Bát-Nhã ba la mật, nếu đại Bồ-Tát chẳng hành sắc, chẳng chứớng ngại, thời là hành Bát-Nhã ba la mật. Nhẫn đến chẳng hành nhứt thiết chủng trí, chẳng chướng ngại, thời là hành Bát-Nhã ba la mật.
          Này Tu Bồ Ðề! Lúc thật hành Bát-Nhã ba la mật như vậy, đại Bồ-Tát biết sắc là chẳng chướng ngại, biết thọ tưởng hành thức là chẳng chướng ngại, nhẫn đến biết nhứt thiết chủng trí  là chẳng chướng ngại, nhẫn đến biết đạo vôo thượng bồ đề là chẳng chướng ngại.
          Ngài Tu Bồ Ðề thưa:
          - Chưa từng có vậy, bạch đức Thế-Tôn!
          Pháp thậm thâm này, hoặc giảng thuyết hoặc chẳng giảng thuyết cũng đều chẳng tăng chẳng giảm.
          Ðức Phật nói:
          - Ðúng như vậy. Pháp thậm thâm này, hoặc nói hoặc chẳng nói cũng đều chẳng tăng chẳng giảm.
          Ví như đức Phật, hoặc khen ngợi hoặc chê bai đến trọn đời, vẫn như hư không, hoặc khen ngợi hoặc chê bai, cũng đều chẳng tăng chẳng giảm.
          Này Tu Bồ Ðề! Như ảo nhơn, lúc khen hay lúc chê cũng đều chẳng tăng chẳng giảm. Lúc khen chẳng mừng, lúc chê chẳng lo.
          Này Tu Bồ Ðề! Pháp tướng của các pháp cũng như vậy, lúc nói cũng như bổn không khác, lúc chẳng nói cũng như bổn không khác.
          Ngài Tu Bồ Ðề thưa:
          - Bạch đức Thế-Tôn! Chỗ làm của chư đại Bồ-Tát rất khó. Lúc tu hành Bát-Nhã ba la mật này, các ngài chẳng mừng chẳng lo, mà có thể thực tập bát-Nhã ba la mật. Cũng chẳng thối chuyển nơi vô thượng bồ đề.
          Tại sao vậy?
          Bạch đức Thế-Tôn! Tu hành Bát-Nhã ba la mật như tu hành hư không.
          Như trong hư không, không có Bát-Nhã ba la mật nhẫn đến không có đàn na ba la mật. Như trong hư không, không có sắc thọ tưởng hành thức nhẫn đến không có mười tám pháp bất cộng. Như trong hư không, không có quả Tu Ðà Hoàn nhẫn đến đạo vô thượng bồ đề. Tu Bát-Nhã ba la mật cũng như vậy.
          Bạch đức Thế-Tôn! Tất cả đều nên kính lễ chư đại Bồ-Tát có thể đại thệ trang nghiêm này.
          Bạch đức Thế-Tôn! Chư đại Bồ-Tát này vì chúng sanh mà đại thệ trang nghiêm chuyên cần tinh tấn, như hư không đại thệ trang nghiêm chuyên cần tinh tấn.
          Bạch đức Thế-Tôn! Chư đại Bồ-Tát này muốn độ chúng sanh như muốn độ hư không.
          Bạch đức Thế-Tôn! Chư đại Bồ-Tát này đại thệ trang nghiêm, như là hư không khắp cả chúng sanh đại thệ trang nghiêm.
          Bạch đức Thế-Tôn! Chư đại Bồ-Tát  này đại thệ trang nghiêm muốn độ chúng sanh như là cất hư không lên.
          Bạch đức Thế-Tôn! Chư đại Bồ-Tát này được sức đại tinh tấn, vì muốn độ chúng sanh mà phát tâm vô thượng bồ đề.
          Bạch đức Thế-Tôn! Chư đại Bồ-Tát này rất dũng mãnh vì độ chúng sanh đồng như hư không mà phát tâm vô thượng bồ đề.
          Tại sao vậy?
          Bạch đức Thế-Tôn! Nếu chư Phật đầy cả trong cõi Ðại Thiên như là tre lau mía lúa mè lùm rừng, thường thuyết pháp luôn cả một kiếp hoặc gần một kiếp. Mỗi đức Phật độ vô lượng vôo biên vô số chúng sanh làm cho họ nhập Niết-Bàn.
          Tánh chúng sanh này cũng vẫn chẳng tăng chẳng giảm.
          Tại sao vậy?
          Vì chúng sanh vốn vô sở hữu vậy, là ly vậy.
          Nhẫn đến chư Phật trong quốc độ mười phương độ chúng sanh, tánh chúng sanh vẫn không tăng không giảm cũng như vậy.
          Do nhơn duyên ấy, Bạch đức Thế-Tôn! Tôi nói rằng chư đại Bồ-Tát này vì muốn độ chúng sanh mà phát tâm vô thượng bồ đề, là muốn độ hư không.
          Bấy giờ có một tỳ kheo nói rằng:
          - Tôi phải đảnh lễ Bát-Nhã ba la mật.
          Trong Bát-Nhã ba la mật dầu không pháp sanh không pháp diệt, mà có chánh giới, có chúng chánh định, có chúng chánh huệ, có chúng giải thoát, có chúng giải thoát tri kiến. Mà có các bực Tu Ðà Hoàn, Tư Ðà Hàm, A Na Hàm, A La Hán, Bích Chi Phật, chư Phật. Mà có Phật bửu, Pháp bửu, Tỳ kheo Tăng bửu. Mà có chuyển pháp luân.
          Lúc đó Thiên Ðế hỏi ngài Tu Bồ Ðề:
          - Nếu đại Bồ-Tát tu tập Bát-Nhã ba la mật là tu tập pháp gì?
          Ngài Tu Bồ Ðề bảo Thiên Ðế:
          - Này Kiều Thi Ca!  Ðại Bồ-Tát này tu tập Bát-Nhã ba la mật là tu tập không.
          Thiên Ðế bạch Phật:
          - Bạch đức Thế-Tôn! Nếu thiện nam thiện nữ thọ trì Bát-Nhã ba la mật này và thân cận đọc tụng giải thuyết chánh ức niệm, thời tôi phải thủ hộ những gì?
          Ngài Tu Bồ Ðề hỏi Thiên Ðế:
          - Này Kiều Thi Ca! Ngài có thấy pháp gì có thể thủ hộ được chăng?
          Thiên Ðế nói:
          - Không. Bạch Ðại đức! Tôi chẳng thấy pháp gì có thể thủ hộ được.
          Ngài Tu Bồ Ðề nói:
          - Nếu thiện nam thiện nữ tu hành đúng như lời dạy trong Bát-Nhã ba la mật, thời chính là thủ hộ. Nghĩa là thường tu hành đúng  như lời dạy trong Bát-Nhã ba la mật mà chẳng xa rời, thời hoặc người hay phi nhơn không làm hại được thiện nam thiện nữ này.
          Phải biết rằng thiện nam thiện nữ này chẳng xa rời Bát-Nhã ba la mật.
          Này Kiều Thi Ca! Nếu ai muốn thủ hộ hàng Bồ-Tát tu hành Bát-Nhã ba la mật, thời là muốn thủ hộ hư không.
          Này Kiều Thi Ca! Ý ngài nghĩ sao? Ngài có thể thủ hộ mộng, diệm, ảnh, hưởng, ảo, hóa được chăng?
          Thiên Ðế nói:
          - Không thể thủ hộ được.
          Ngài Tu Bồ Ðề  nói:
          - Nếu ai muốn thủ hộ chư Bồ-Tát tu hành Bát-Nhã ba la mật thời cũng như vậy. Chỉ luống nhọc nhằn thôi.
          Này Kiều Thi Ca! Ngài có thể thủ hộ chỗ biến hóa của Phật chăng?
          Thiên Ðế nói:
          - Tôi chẳng thủ hộ được.
          Ngài Tu Bồ Ðề nói:
          - Nếu ai muốn thủ hộ chư Bồ-Tát thật hành Bát-Nhã ba la mật thời cũng như vậy.
          Này Kiều Thi Ca! Có thể thủ hộ pháp tánh, thiệt tế, pháp như, bất tư nghì tánh chăng?
          Thiên Ðế nói:
          - Không thể thủ hộ được.
          Ngài Tu Bồ Ðề nói:
          - Nếu có ai  muốn thủ hộ chư  Bồ-Tát thật hành Bát-Nhã ba la mật thời cũng như vậy.
          Thiên Ðế hỏi:
          - Thưa ngài Tu Bồ Ðề! Thế nào đại Bồ-Tát thật hành Bát-Nhã ba la mật thấy biết các pháp như mộng, như diệm, như ảnh, như hưởng, như ảo, như hóa? Thế nào chư đại Bồ-Tát như chỗ mình thấy biết nên chẳng quan niệm mộng, chẳng quan niệm là mộng, chẳng quan niệm dùng mộng, chẳng quan niệm tôi mộng?
          Như mộng, với diệm, ảnh, hưởng, ảo và hóa cũng vậy.
          Ngài Tu Bồ Ðề nói:
          - Này Kiều Thi Ca! Nếu đại Bồ-Tát thật hành Bát-Nhã ba la mật, chẳng quan niệm sắc, chẳng quan niệm là sắc, chẳng quan niệm dùng sắc, chẳng quan niệm sắc của tôi, thời đại Bồ-Tát này cũng có thể chẳng quan niệm mộng, chẳng quan niệm là mộng, chẳng quan niệm dùng mộng, chẳng quan niệm tôi mộng, nhẫn đến ảo và hóa cũng vậy.
          Nếu đại Bồ-Tát nhẫn đến nhứt thiết trí, chẳng quan niệm nhứt thiết trí, chẳng quan niệm là nhứt thiết trí, chẳng quan niệm dùng nhứt thiết trí, chẳng quan niệm nhứt thiết trí của tôi, thời đại Bồ-Tát này cũng có thể nhẫn đến chẳng quan niệm hóa, chẳng quan niệm dùng hóa, chẳng quan niệm hóa của tôi.
          Này Kiều Thi Ca! Ðại Bồ-Tát như vậy biết các pháp như mộng, như diệm, như ảnh, như hưởng, như ảo, như hóa.
          Bấy giờ do thần lực của Phật, nên trong Ðại Thiên Thế Giới, các hàng trời Tứ Thiên Vương, trời Ðao Lợi, trời Dạ Ma, trời Ðâu Suất, trời Hóa Lạc, trời Tha Hóa Tự Tại, trời Phạm Thiên, trời Phạm Phụ, trời Phạm Chúng, trời Ðại Phạm, trời Thiểu Quang, nhẫn đến trời Tịnh Cư, tất cả hàng ntrời này đem hương chiên đàn cõi trời vói rải trên đức Phật, cùng nhau đến chỗ Phật, đầu mặt lạy chơn Phật, rồi đứng qua một phía.
          Do thần lực của Phật, nên hàng trời này đều thấy ngàn đức Phật phương đông thuyết pháp, cùng tướng dạng như vậy, danh hiệu như vậy, giảng nói phẩm Bát-Nhã ba la mật này, chư Tỳ Kheo đều tên Tu Bồ Ðề, người gạn hỏi phẩm Bát-Nhã ba la mật đều tên Thích Ðề Hoàn Nhơn.
          Như phương đông, chín phương kia cũng đều hiện ngàn đức Phật như vậy.
          Ðức Phật bảo ngài Tu Bồ Ðề:
          - Thời kỳ Di Lặc đại Bồ-Tát chứng vô thượng chánh đẳng chánh giác, cũng sẽ nói Bát-Nhã ba la mật tại chỗ này. Chư đại Bồ-Tát trong hiền kiếp, lúc chứng vô thượng bồ đề cũng ở tại chỗ này mà nói Bát-Nhã ba la mật.
          Ngài Tu Bồ Ðề thưa:
          - Bạch đức Thế-Tôn! Lúc ngài Di Lặc Bồ-Tát thành Phật, dùng tướng gì, nhơn gì, nghĩa gì mà nói nghĩa Bát-Nhã ba la mật?
          Ðức Phật nói:
          - Này Tu Bồ Ðề! Lúc Di Lặc chứng vô thượng bồ đề sẽ thuyết pháp như vầy:
          Sắc chẳng phải thường, chẳng phải vô thường.
          Sắc chẳng phải khổ, chẳng phải lạc.
          Sắc chẳng phải ngã, chẳng phải vô ngã.
          Sắc chẳng phải tịnh, chẳng phải bất tịnh.
          Sắc chẳng phải hệ phược, chẳng phải giải thoát.
          Sắc chẳng phải quá khứ, chẳng phải vị lai, chẳng phải hiện tại.
          Sắc rốt ráo thanh tịnh.
          Thọ tưởng hành và thức nhẫn đến nhứt thiết trí cũng như vậy.
          Ngài Tu Bồ Ðề thưa:
          - Bạch đức Thế-Tôn! Bát-Nhã ba la mật này thanh tịnh?
          Ðức Phật nói:
          - Này Tu Bồ Ðề! Vì sắc thanh tịnh nên Bát-Nhã ba la mật thanh tịnh. Vì thọ tưởng hành thức thanh tịnh nên Bát-Nhã ba la mật thanh tịnh.
          Ngài Tu Bồ Ðề thưa:
          - Bạch đức Thế-Tôn! Thế nào vì sắc thọ tưởng hành thức thanh tịnh nên Bát-Nhã ba la mật thanh tịnh?
          Ðức Phật nói:
          - Này Tu Bồ Ðề! Nếu sắc chẳng sanh chẳng diệt chẳng cấu chẳng tịnh, thời gọi là sắc thanh tịnh. Nếu thọ tưởng hành thức chẳng sanh chẳng diệt chẳng cấu chẳng tịnh thời gọi là thọ tưởng hành thức thanh tịnh.
          Lại này Tu Bồ Ðề! Vì  hư không thanh tịnh nên Bát-Nhã ba la mật thanh tịnh.
          Ngài Tu Bồ Ðề thưa:
          - Bạch đức Thế-Tôn! Thế nào vì hư không thanh tịnh nên Bát-Nhã ba la mật thanh tịnh?
          Ðức Phật nói:
          - Này Tu Bồ Ðề! Vì hư không chẳng snah chẳng diệt nên thanh tịnh. Bát-Nhã ba la mật cũng vậy.
          Lại này Tu Bồ Ðề. Vì sắc chẳng nhiễm ô nên Bát-Nhã ba la mật thanh tịnh. Vì thọ tưởng hành thức chẳng nhiễm ô nên Bát-Nhã ba la mật thanh tịnh.
          Tại sao vậy?
          Này Tu Bồ Ðề! Như hư không vì chẳng thể nhiễm ô được nên hư không thanh tịnh.
          Tại sao vậy?
          Này Tu Bồ Ðề! Vì hư không chẳng thể nắm lấy được nên hư không thanh tịnh. Vì hư không thanh tịnh nên Bát-Nhã ba la mật thanh tịnh.
          Lại này Tu Bồ Ðề! Vì hư không có thể thuyết minh nên Bát-Nhã ba la mật thanh tịnh.
          Tại sao vậy?
          Nhơn trong hư không hai âm thanh xuất phát.
          Như hư không, vì Bát-Nhã ba la mật có thể thuyết minh nên Bát-Nhã ba la mật thanh tịnh.
          Này Tu Bồ Ðề! Vì hư không chẳng thể thuyết minh nên Bát-Nhã ba la mật thanh tịnh.
          Tại sao vậy?
          Như hư không vì không chỗ thuyết minh được nên Bát-Nhã ba la mật thanh tịnh.
          Này Tu Bồ Ðề! Lại như hư không vì chẳng thể được nên Bát-Nhã ba la mật thanh tịnh.
          Tại sao vậy?
          Như hư không vì không chỗ được nên hư không thanh tịnh, Bát-Nhã ba la mật cũng không chỗ được  nên Bát-Nhã ba la mật thanh tịnh.
          Lại này Tu Bồ Ðề! Vì tất cả pháp chẳng sanh chẳng diệt chẳng cấu chẳng tịnh nên Bát-Nhã ba la mật thanh tịnh.
          Tại sao vậy?
          Vì tất cả pháp rốt ráo thanh tịnh nên Bát-Nhã ba la mật thanh tịnh.
          Ngài Tu Bồ Ðề thưa:
          - Bạch đức Thế-Tôn! Nếu thiện nam thiện nữ thọ trì Bát-Nhã ba la mật này và gần gũi chánh ức niệm, thời trọn chẳng mắc bịnh, nhãn nhĩ tĩ thiệt thân cũng trọn chẳng mắc bịnh, thân không tàn tật cũng chẳng suy già, chẳng hoạnh tử, vô số hàng chư Thiên, từ trời Tứ Vương đến trời Tịnh Cư thảy đều đi theo nghe học. Mỗi tháng đến sáu ngày trai: mùng tám, mười bốn, mười lăm, hai mươi ba, hai mươi chín và ngày ba mươi, tại chỗ thiện nam thiện nữ này, làm pháp sư, giảng thuyết Bát-Nhã ba la mật, chư Thiên chúng hội đều vân tập đến. Ở giữa đại chúng thiện nam thiện nữ này giảng thuyết Bát-Nhã ba la mật này được vô lượng vô biên vô số bất khả tư nghị bất khả xưng lượng phước đức.
          Ðức Phật nói:
          - Ðúng như lời Tu Bồ Ðề nói. Tại sao vậ y? Vì Bát-Nhã ba la mật là đại trân bửu.
          Những gì là đại trân bửu?
          Bát-Nhã ba la mật này có thể nhổ được sự bần cùng của địa ngục súc sanh ngạ quỷ và trong loài người. Bát-Nhã ba la mật này có thể ban cho hào tộc đại tánh sát lợi bà la môn cư sĩ, ban cho cõi trời Tứ Vương đến Phi Phi Tưởng, ban cho quả Tu Ðà Hoàn, Tư Ðà Hàm, A Na Hàm, A La hán, Bích Chi Phật, vô thượng bồ đề.
          Tại sao vậy?
          Vì trong Bát-Nhã ba la mật nói rộng về thập thiện tứ thiền, tứ vô lượng tâm, tứ vô sắc định, tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như ý túc, ngũ căn, ngũ lực, thất giác phần, bát thánh đạo phần, đàn na ba la mật, thi la ba la mật, sằn đề ba la mật, tỳ lê gia ba la mật, thiền na ba la mật, Bát-Nhã ba la mật, thập bát không, thập lực tứ vô úy, thập bát bất cộng, nhẫn đến nhứt thiết chủng trí.
          Học theo đây thời xuất sanh đại tánh sát lợi, đại tánh bà la môn, đại tánh cư sĩ, trời Tứ Vương, trời Ðao Lợi, trời Dạ Ma, trời Ðâu Suất Ðà, trời Hóa Lạc, trời Tha Hóa Tự Tại, trời Phạm Chúng, trời Phạm Phụ, trời Phạm Vương, trời Thiểu Quang, trời Vô Lượng Quang, trời Quang Âm, trời Thiểu Tịnh, trời Vô lượng Tịnh, trời Bbiến Tịnh, trời Vô Vân, trời Phước Sanh, trời Quảng Quả, trời Vô Tưởng, trời Vô Phiền, ,trời Vô Nhiệt, trời Thiện Kiến, trời Thiện Hiện, trời Sắc Cứu Cánh, trời Không Vô Biên Xứ, trời Thức Vô BIên Xứ, trời Vô Sở Hữu Xứ, trời Phi Hữu Tưởng Phi Vô Tưởng Xứ.
          Học trong pháp này thời được quả Tu Ðà Hoàn, quả Tư Ðà Hàm, quả A Na Hàm, quả A La Hán, đạo Bích Chi Phật, đạo Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.
          Này Tu Bồ Ðề! Vì thế nên Bát-Nhã ba la mật gọi là đại trân bửu.
          Trong trân bửu ba la mật, không pháp gì có thể được là hoặc sanh, hoặc diệt, hoặc cấu, hoặc tịnh, hoặc lấy, hoặc bỏ.
          Trong trân bửu ba la mật cũng không có pháp hoặc thiện, hoặc bất thiện, hoặc thế gian, hoặc xuất thế gian, hoặc hhữu lậu, hoặc vô lậu, hoặc hữu vi, hoặc vô vi.
          Vì thế nên gọi là vô sở đắc trân bửu ba la mật.
          Này Tu Bồ Ðề! Trân bửu ba la mật này không có pháp gì làm nhiễm ô được.
          Tại sao vậy?
          Vì chỗ dùng nhiễm pháp là bất khả đắc.
          Vì thế nên gọi là vô nhiễm trân bửu ba la mật.
          Này Tu Bồ Ðề! Nếu đại Bồ-Tát lúc thật hành Bát-Nhã ba la mật, cũng chẳng biết như vậy, chẳng phân biệt như vậy, cũng bất khả đắc như vậy, chẳng hí luận như vậy. Ðây là có thể tu hành Bát-Nhã ba la mật, cũng có thể kính lễ chư Phật, từ một cõi Phật đến một cõi Phật để cúng dường cung kính tán thán chư Phật, đi đến các cõi Phật để thành tựu chúng sanh thanh tịnh Phật độ.
          Này Tu Bồ Ðề! Ðối với các pháp, Bát-Nhã ba la mật này không có năng lực, cũng không lãnh thọ, không ban cho, chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng cấu, chẳng tịnh, chẳng thêm chẳng bớt.
          Bát-Nhã ba la mật này cũng chẳng phải quá khứ, chẳng phải vị lai, chẳng phải hiện tại, chẳng bỏ cõi dục cõi sắc cõi vô sắc.
          Bát-Nhã ba la mật này chẳng ban cho đàn na ba la mật đến thiền na ba la mật và Bát-Nhã ba la mật này cũng chẳng bỏ đàn  na ba la mật đến thiền na ba la mật và Bát-Nhã ba la mật.
          Bát-Nhã ba la mật này chẳng cho nội không đến vô pháp hữu pháp không cũng chẳng bỏ, chẳng cho tứ  niệm xứ đến bát thánh đạo cũng chẳng bỏ, chẳng cho thập lực đến thập bát bất cộng pháp cũng chẳng bỏ, chẳng cho quả Tu Ðà Hoàn đến nhứ thiết trí cũng chẳng bỏ.
          Bát-Nhã ba la mật này chẳng cho pháp A La hán chẳng bỏ pháp phàm phu, chẳng bỏ pháp Bích Chi Phật chẳng bỏ pháp A La hán, chẳng cho Phật pháp chẳng bỏ pháp Bích Chi Phật.
          Bát-Nhã ba la mật này cũng chẳng cho pháp vô vi chẳng bỏ pháp hữu vi.
          Tại sao vậy?
          Vì hoặc có Phật hoặc không Phật, những pháp tướng này luôn thường trụ không khác, vì pháp tướng pháp trụ pháp vị thường trụ chẳng sai chẳng mất vậy.
          Bấy giờ chư Thiên đứng trong hư không vui mừng hớn hở phát âm thanh lớn, đem hoa âu bát la, hoa ba đầu ma, hoa câu vật đà, hoa phân đà lợi rải lên trên đức Phật mà nói rằng ở Diêm Phù Ðề chúng tôi thấy pháp luân chuyển lần thứ hai.
          Trong đây có vô lượng trăm ngàn Thiên Tử được vô sanh pháp nhẫn.
          Ðức Phật bảo ngài Tu Bồ Ðề:
          - Pháp luân này chuyển, chẳng phải chuyển lần thứ nhứt, chẳng phải chuyển lần thứ hai.
          Bát-Nhã ba la mật này chẳng do chuyển chẳng do hườn hà xuất hiện, vì vô pháp hữu pháp rỗng không vậy.
          Ngài Tu Bồ Ðề thưa:
          - Bạch đức Thế-Tôn! Thế nào vì vô pháp hữu pháp rổng không nên Bát-Nhã ba la mật chẳng do chuyển chẳng do hườn hà xuất hiện?
          Ðức Phật  nói:
          - Này Tu Bồ Ðề! Bát-Nhã ba la mật Bát-Nhã ba la mật tướng rỗng không nhẫn đến đàn na ba la mật đàn na ba la mật tướng rổng không, nội không nội không tướng rổng không nhẫn đến vô pháp hữu pháp không vô pháp hữu pháp không tướng rổng không, tứ  niệm xứ tứ niệm xứ tướng rổng không nhẫn đến bát thánh đạo bát thánh đạo tướng rổng không, Phật thập lực thập lực tướng rổng không nhẫn đến mười tám pháp bất cộng pháp bất cộng tướng rỗng không, quả Tu Ðà Hoàn quả Tư Ðà Hàm tướng rổng không nhẫn đến nhứt thiết trí nhứt thiết trí rổng không.
          Ngài Tu Bồ Ðề thưa:
          - Bạch đức Thế-Tôn! Bát-Nhã ba la mật của chư đại Bồ-Tát là ma ha ba la mật.
          Tại sao vậy?
          Dầu tất cả pháp, tự tánh tổng không nhưng chư đại Bồ-Tát nhơn nơi Bát-Nhã ba la mật mà được vô thượng bồ đề, cũng không có pháp được, chuyển pháp luân cũng không có pháp chuyển được, cũng không có pháp hườn được.
          Trong ma ha ba la mật này cũng không có pháp thấy được.
          Tại sao vậy?
          Pháp này không có được hoặc chuyển hoặc hườn, vì tất cả pháp rốt ráo chẳng sanh vậy.
          Tại sao vậy?
          Vì tướng không này, tướng vô tướng này, tướng vô tác này chẳng chuyển được chẳng hườn được.
          Nếu giải thuyết Bát-Nhã ba la mật được như vậy, có thể gi ảng dạy khai thị phân biệt rành rẽ, giải thích cặn kẽ, thời gọi là thanh tịnh giải thuyết Bát-Nhã ba la mật. Cũng không người nói, cũng không người nghe, cũng không người chứng.
          Nếu không nói không nghe, không chứng, thời cũng không diệt mất.
          Trong thuyết pháp này cũng không phước điền quyết định.
--o0o--