Kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật
QUYỂN THỨ HAI MƯƠI HAI


Hán dịch: Pháp Sư Cưu Ma La Thập
Việt dịch: Hòa Thượng Thích Trí Tịnh.
 
PHẨM BẤT TẬN THỨ SÁU MƯƠI BẢY
 
            Khi đó ngài Tu Bồ Ðề nghĩ rằng: vô thượng bồ đề của chư Phật rất sâu xa tôi phải hỏi đức Phật.
            Suy nghĩ xong,  ngài Tu Bồ Ðề bạch Phật:
            Bạch đức Thế-Tôn! Bát-Nhã ba la mật này bất khả tận. Như đức Phật dạy vì hư không bất khả tận nên Bát-Nhã ba la mật bất khả tận.
            Bạch đức Thế-Tôn! tại sao  phải sanh khởi Bát-Nhã ba la mật?
            Ðức Phật phán dạy:
            Này Tu Bồ Ðề! Vì sắc bất khả tậnn ên Bát-Nhã ba la mật phải sanh. Vì thọ, tưởng, hành, thức bất khả tận nên Bát-Nhã ba la mật phải sanh. Vì đàn na ba la mật bất khả tận  nên Bát-Nhã ba la mật phải sanh. Vì Thi la ba la mật, nhẫn ba la mật, tấn ba la mật, thiền ba la mật, Bát-Nhã ba la mật bất khả tận nên Bát-Nhã ba la mật phải sanh. Nhẫn đến vì nhứt thiết chủng trí bất khả tận nên Bát-Nhã ba la mật phải sanh.
            Lại này Tu Bồ Ðề! Vì vô minh không bất khả tận nên Bát-Nhã ba la mật của Bồ-Tát phải sanh. Vì hành không bất khả tận nên Bát-Nhã ba la mật phải sanh. Vì thức không bất khả tận nên Bát-Nhã ba la mật phải sanh. Vì danh sắc không bất khả tận nên Bát-Nhã ba la mật phải sanh. Vì lục nhập không bất khả tận nên Bát-Nhã ba la mật phải sanh. Vì lục xúc không bất khả tận nên Bát-Nhã ba la mật phải sanh. Vì thọ không bất khả tận nên Bát-Nhã ba la mật phải sanh. Vì ái không bất khả tận nên Bát-Nhã ba la mật phải sanh. Vì thủ không bất khả tận nên Bát-Nhã ba la mật phải sanh. Vì hữu không bất khả tận nên Bát-Nhã ba la mật phải sanh. Vì sanh không bất khả tận nên Bát-Nhã ba la mật phải sanh. Vì lão tử ưu bi khổ não không bất khả tận nên Bát-Nhã ba la mật của Bồ-Tát phải sanh.
            Như vậy, Bát-Nhã ba la mật của Bồ-Tát phải sanh.
            Mười hai nhơn duyên như vậy là pháp riêng của Bồ-Tát hay trừ được các biên chấp điên đảo.
            Lúc ngồi đạo tràng nên quán như vậy sẽ được nhứt thiết chủng trí.
            Này Tu Bồ Ðề! Nếu có đại Bồ-Tát nào đem pháp hư không bất khả tận mà hành Bát-Nhã ba la mật, quán mười nhơn duyên, thì chẳng sa vào bực Thanh Văn Bích Chi Phật, được an trụ vô thượng bồ đề.
            Này Tu Bồ Ðề! Người cầu đạo Bồ-Tát mà thối chuyển đó là vì xa rời tâm niệm Bát-Nhã ba la mật vậy.
            Người đó chẳng biết hành Bát-Nhã ba la mật dùng pháp hư không bất khả tận như thế nào để quán mười hai nhơn duyên.
            Này Tu Bồ Ðề! Vì người cầu đạo Bồ-Tát mà chẳng được sức phương tiện như vậy nên thối chuyển nơi vô thượng bồ đề.
            Này Tu Bồ Ðề! Nếu đại Bồ-Tát được không thối chuyển nơi vô thượng bồ đề, đều do được sức phương tiện như vậy cả.
            Này Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ-Tát phải dùng pháp hư không bất khả tận để quán Bát-Nhã ba la mật. Phải dùng pháp hư không bất khả tận để sanh khỏi Bát-Nhã ba la mật.
            Như vậy, này Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ-Tát lúc quán mười hai nhơn duyên, chẳng thấy có pháp nào không do nhơn duyên mà sanh, chẳng thấy pháp nào thường còn chẳng diệt, chẳng thấy pháp nào có ngã, có nhơn, có thọ giả, mạng giả, chúng sanh nhẫn đến tri giả, kiến giả, chẳng thấy có pháp vô thường, chẳng thấy pháp khổ, vô ngã, chẳng thấy pháp tịch diệt và phi tịch diệt.
            Ðại Bồ-Tát hành Bát-Nhã ba la mật phải quán mười     hai nhơn duyên như vậy.
            Này Tu Bồ Ðề! Nếu đại Bồ-Tát có thể hành Bát-Nhã ba la mật như vậy, thì lúc đó chẳng thấy sắc là thường hay vô thường, là khổ hay lạc, là ngã hay vô ngã, là tịch diệt hay phi tịch diệt.
            Như với sắc, thọ, tưởng, hành, thức cũng vậy.
            Lúc đó đại Bồ-Tát cũng chẳng thấy Bát-Nhã ba la mật, cũng chẳng thấy dùng pháp ấy để thấy Bát-Nhã  ba la mật. Nhẫn đến chẳng thấy vô thượng bồ đề, cũng chẳng thấy dùng pháp ấy để thấy vô thượng bồ đề. Vì tất cả pháp đều bất khả đắc vậy. Ðó là đúng với hạnh Bát-Nhã ba la mật.
            Nếu lúc đại Bồ-Tát hành Bát-Nhã ba la mật vô sở đắc, thì ác ma sầu khổ như bị tên xoi tim, như người có cha mẹ mới chết mất.
            Ngài Tu Bồ Ðề thưa:
            Bạch đức Thế-Tôn! Chỉ một ác ma sầu khổ, hay là ác ma trong cõi Ðại Thiên cũng đều sầu khổ?
            Này Tu Bồ Ðề! Các ác ma trong cõi Ðại Thiên đều sầu khổ như tên xoi tim không thể tự an.
            Này Tu  Bồ Ðề! Ðại Bồ-Tát có thể hành Bát-Nhã ba la mật như vậy, lúc đó tất cả thế gian, Trời Người A Tu La chẳng thế nào hại được.
            Thế nên đại Bồ-Tát muốn được vô thượng bồ đề phải  hành Bát-Nhã ba la mật này.
            Ðại Bồ-Tát lúc hành Bát-Nhã ba la mật thì trọn vẹn tu thí, giới, nhẫn, tấn, thiền và Bát-Nhã ba la mật.
            Ðại Bồ-Tát lúc hành Bát-Nhã ba la mật thì đầy đủ các ba la mật.
            Bạch đức Thế-Tôn! Ðại Bồ-Tát lúc hành Bát-Nhã ba la mật, thế nào đầy đủ các ba la mật?
            Này Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ-Tát có bố thí bao nhiêu đều hồi hướng nhứt thiết trí,, thế nên lúc hành Bát-Nhã ba la mật đại Bồ-Tát đầy đủ bố thí ba la mật.
            Này Tu  Bồ Ðề! Ðại Bồ-TÁt có trì giới đều hồi hướng nhứt thiết trí, thế nên lúc hành Bát-Nhã ba la mật đại Bồ-Tát đầy đủ trì giới ba la mật.
            Này Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ-Tát có nhẫn nhục bao nhiêu đều hồi hướng  nhứt thiết trí,, thế nên lúc hành Bát-Nhã ba la mật đại Bồ-Tát đầy đủ nhẫn nhục ba la mật.
            Này Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ-Tát có tinh tấn bao nhiêu đều hồi hướng nhứt thiết trí, thế nên lúc hành Bát-Nhã ba la mật, đại Bồ-Tát đầy đủ tinh tấn ba la mật.
            Này Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ-Tát có th iền định bao nhiêu đều hồi hướng nhứt thiết trí, thế nên lúc hành Bát-Nhã ba la mật đại Bồ-Tát đầy đủ thiền ba la mật.
            Này Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ-Tát có trí huệ bao nhiêu đều hồi hướng nhứt thiết trí, thế nên lúc hành Bát-Nhã ba la mật đại Bồ-Tát đầy đủ Bát-Nhã ba la ật.
            Như vậy, này Tu Bồ Ðề! Ðại Bồ-Tát hành Bát-Nhã ba la mật thì đầy đủ sáu ba la mật.