|
- Thư Viện Chùa Dược Sư
- CÁC BÀI VIẾT VỀ VU LAN
-

MỘT GÓC NHÌN
VỀ MẸ TRONG
ÂM NHẠC
Giác Đạo Dương
Kinh Thành
---o0o---
Quả đất gọi là nặng,
Nhưng lòng mẹ nặng
hơn nhiều.
THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Như suối nguồn vô
tận, đề tài nói về công ơn cha mẹ không thể cạn ý khô lời,
nhất là ở lãnh vực Văn học-Nghệ thuật. Chỉ riêng khía cạnh thơ
ca thôi cũng đủ làm chúng ta choáng ngợp, cảm thấy bé nhỏ dưới
bầu trời vô tận của mênh mông tình mẹ.Với đạo lý nhà Phật,
điều đó thêm trở nên thiêng liêng và ý nghĩa hơn. Người con
Phật đã được ý thức rất sớm về điều thiêng liêng ấy nhờ vào
nền tảng luân lý nhà Phật, như thế ai đó bất hiếu với cha mẹ
sẽ chẳng bao giờ được thấy Ðạo; thế nên những tuyên ngôn (Sanh
đời không có Phật, thờ cha mẹ tức thờ Phật”, bởi vì “Cha mẹ
hiện tiền như Phật tại thế”. Bởi vậy “Ðiều kiện cao tột không
gì ơn hiếu, điều ác tột cùng không gì hơn bất hiếu”. Tự hào
thay chúng ta đã có một vị Giảo chủ tuyệt vời đến thế–có gì
đâu, sinh ra trong cõi này ai cũng có cha mẹ, chứ không từ
trên trời rơi xuống hay từ đất nẻ chui lên! “Nước sông nọ có
nguồn mới chảy, Hạt thóc kia có cấy mới lên, Phàm phu cho đến
thánh hiền, Ví không cha mẹ sao nên thân người”, như một bài
Sám văn đã viết.
Chỉ tiếc rằng, người viết bài này
không phải là một nhạc sĩ hay một nhà văn, nhà thơ đề có thể
đóng góp phần bé nhỏ của mình vào văn đàn và nghệ thuật ca
ngợi tình mẹ, nhất là nhạc sĩ của Phật giáo để diễn bày qua đó
bằng pháp thoại lung linh, mang chút tham vọng chuyên chở một
đạo lý tột cùng của con người từ lúc hãy còn chín tháng cưu
mang.Và chỉ tiếc rằng không phải là một nhà hoạt động Văn hóa
Phật giáo để nhìn xuyên qua khe nắng trần gian, góp nhặt từng
hạt ngọc đời, đánh giá, tuyên dương văn-thơ-nhạc-họa đích thực
của Phật giáo. Có hay chăng người viết vẫn chỉ là một chủng tử
bé nhỏ trong rừng văn học nghệ thuật từng ngày, từng giờ đang
học đòi làm một Phật tử. Do đó, những dẫn dụ được trình bày
dưới đây không phải là công việc tổng hợp hay đi tìm nhân tố
điển hình, mà là theo chủ quan–cảm nhận mang tính chất cá
nhân. Còn lại–như đã nói–đó là công việc của các nhà hoạt động
văn hóa Phật giáo.
Trong lãnh vực âm
nhạc, đã có biết bao nhiêu bài ca về công ơn cha mẹ. Có bài đã
trở nên tiêu biểu, đã đi sâu vào lòng người nhiều thế hệ. Ở
đây, chỉ xin xét đến khía cạnh khác đó là tính đạo lý Phật
giáo và đạo đức dân tộc trong một vài bài hát người viết có
được trong “kho tàng” CD, cassette hiếm hoi của riêng mình.
Người trước tiên không thể không nhắc đến là nhạc sĩ Trịnh
CôngSơn. Nhắc đến ông, không vì sự kiện ông vừa tạm biệt “một
cõi đi về”, mà trước hết qua một quảng đời niên thiếu của
người viết lúc còn sinh hoạt Phật tử, các bài hát “Da vàng”
của ông đã ghi đậm dấu ấn khó phai. Và qua rất nhiều tư liệu
về cuộc đời cũng như sáng tác của ông, người ta cũng đã hiểu
thêm được nhiều điều. Phần lớn những điều đó được gắn liền vào
mỗi ca khúc trong hơn năm, sáu trăm ca khúc của ông, vì đó là
sự thật của chính cuộc đời cũng như của chính cảm nhận của ông
“Khi cần thì viết ra (sáng tác) không cần tưởng tượng chi
cả”(1), đến nỗi nhạc sĩ Xuân Khoát phải thốt lên “Chữ của
Trịnh Công Sơn như sẵn từ trong túi”. Qua đó, lần dỡ chúng ta
sẽ thấy Trịnh Công Sơn sáng tác ban đầu cho đến khi mất theo
trình tự như sau:
1- Ngẫu hứng và ảnh
hưởng (do yếu tố trưởng thành và môi trường gia1o dục nhà
trường và giáo dục bè bạn)
2- Bắt đầu định
hướng dân tộc, ý thức cuộc đời nô lệ (qua các sự kiện gia
đình, quân dịch, để có được những bài ca “phản chiến”);
3- Nhận thức rõ chân
lý duyên sinh và rẽ ngoặc đi một đường thẳng cho đến ngày nhắm
mắt.
Vì mỗi sáng tác là
một phần sự thật cuộc đời ông nên công chúng đều quý yêu. Ðiều
trân trọng quý yêu ấy dừng lại ngay tác phẩm đầu tay “Uớt mi”
năm 1958 của ông! Ướt mi là một tác phẩm trữ tình, lãng mạn,
điều đó quá rõ, nhưng vì là “một phần sự thật” nên ít ai còn
biết thêm rằng nguyên do ra đời bài hát ấy xuất phát từ lòng
thương cảm của một đứa con dành cho người mẹ đang mang bệnh
lao giai đoạn cuối; mà người con gái ấy hằng đêm đi hát để
kiếm tiền nuôi mẹ hằng một bài hát “tủ”: “Giọt mưa thu”, mỗi
lần hát, cô đều khóc! Ðó là nữ ca sĩ Thanh Thúy–năm ấy cô chỉ
mới 16 tuổi đời. Trịnh Công Sơn cho đó là một “giọt nuớc mắt
rất thuần khiết của một người con gái”(2). Một
người con trai 19 tuổi lần đầu cảm xúc để viết nên nhạc phẩm
đầu tiên, lại nói về sự hiếu thảo, sao không đáng trân trọng
và quý yêu, nào phải đâu đắm say lụy tình! Trịnh Công Sơn khóc
cho mẹ người để nhiều chục năm sau bên mộ cha ở Huế ông khóc
cho “Một cõi đi về” và sau nữa bên mộ mẹ mình ở Thủ Ðức ông
khóc cho “Ðường xa vạn dặm”, trong đó bên mẹ ai cũng vẫn là
một đứa trẻ, vẫn nũng nịu mẹ qua lời ca như trách móc: “Gối
lệch chăn mềm–mẹ bỏ tôi đi, giấc ngủ chưa tròn–mẹ bỏ tôi đi.
Mẹ bỏ tôi đi, đường xa vạn dặm...”
“Tôi ôm con sáo bé bỏng của tôi,
theo cha dọc bờ sông trắng xóa. Hồng Hà mùa thu đẩy gió và
tiếng súng...”(3). Con sáo ở đây, tức nỗi niềm
người mẹ khi đưa “cha và anh hai vượt sông Hồng ở những năm
30-40...” nên lời ca sau đó là “thương cha, con sáo thủy chung
của me. Thương anh, con sáo bứt ruột chờ mong...”, và vì nỗi
lòng người mẹ nên “con sáo sang sông bạt gió và sóng, con sít
thuơng ai, tìm ai...”. Phải đợi đến hơn mười năm sau, kể từ
ngày nghe được bài hát này (1990-2000) đến khi có trong tay CD
“Tự họa” tôi mới thật sự cảm nhận những điều có thật của người
nhạc sĩ từng một thời vang tiếng “ngẫu hứng”–Vâng, chúng ta
đang nói đến Nhạc sĩ Trần Tiến mà bài hát “Phố nghèo”(4)
đã để lại dư âm rất da diết và lắng đọng, đã khiến phải nhắc
đến trong bài viết này, trong khi âm nhạc Phật giáo chưa đủ
sức tự khẳng định mình và đó đây đã xảy ra tình trạng manh
nha, ỷ lại, xa rời vốn dĩ nơi mình sinh ra và lớn lên. Với NS
Trần Tiến, anh đã quay về từ câu chuyện “Bắt đầu từ con phố
ven sông chảy quanh kinh thành cổ... Sau 30 năm du ca trở về
thăm phố cũ, bổng thấy mình cần dừng bước lãng du để thực hiên
một số đĩa nhạc, dẫu đã muộn nhưng cũng đủ ghi lại đôi nét ký
họa về những cơn đường đi qua, những người đã gặp chung cuộc
hành trình trong cuộc đời ngắn ngủi này. Ðó là bức thông điệp
của người con gởi mẹ quê nhà, của người con hàng vạn kiếp phôi
pha...”. NS đã thổ lộ như thế và CD này anh ví một bức Tự họa
đầu tiên mang tên: Phố nhỏ ven sông. Rất thật rất gần gũi bởi
đó là những chuẩn mực đạo đức dân tộc đáng phải ca ngợi trước
tiên.
Với bài “Phố nghèo”, chúng tôi cho
đây là ca khúc chính của CD Tự họa của anh. Bởi vì nơi đó có
mẹ, có tuổi thơ và những người thân của mình–phố Hàng Buồm, Hà
Nội. Ký ức của anh màu nâu; cái màu của đất, bằng ánh mắt “Tâm
Ðịa Quán” mang định chủ thể duyên sanh nhà Phật Chúng sanh
chi tâm địa như đại địa. Ngũ cốc ngũ quả tùng đại địa sanh.
Ngay như tâm tam giới cũng mang tên đất: Dĩ thử nhân duyên
tam giới, duy tâm tam danh chi địa. Và cái màu nâu, chư Tổ
sư chọn dùng may Tăng phục ý nghĩa như thế nào, cũng như ông
bà ta xưa nay chọn màu nâu làm đồng áng ra sao hẳn chúng ta đã
rõ. Nhà thơ Nguyễn Duy trong “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa” có
viết: “Mẹ ta không có yếm đào, Nón mê thay nón quai thao
đội đầu, Rối ren tay bí tay bầu, Váy nhuộm bùn, áo nhuộm nâu
bốn mùa”. Vì vậy, rất dân tộc, rất thâm thúy khi NS Trần
Tiến viết lời ca “Phố buồn nâu, mái ngói buồn nâu, cà phê đắng
rơi từng giọt nâu buồn... phố của tôi, thơ ấu đời tôi...”.
Càng ray rứt hơn khi NS thốt lên “Ở nơi đó tôi còn nhớ mẹ của
tôi, bao đêm trắng, nhìn về phía chân trời. Mẹ cầu kinh đức
Phật Quan Thế Âm, phù hộ cho con phiêu bạt trở về”. Ðất nước
chiến chinh, bà mẹ nào cũng thế, cũng có nỗi đau riêng mình.
NS Trần Tiến nhìn sang hàng xóm và nhớ lại: “Noel 1972, hai
trái bom đi sai mục tiêu, đã ném vào cái phố nghèo bé bỏng của
tôi... Chỉ thương anh hàng xóm đã ra đi không bao giờ trở về
nữa. Nhớ về để nghe CD tình ca này tôi viết tặng anh. Tặng cả
tuổi trẻ chúng ta đã dàn hàng ngang gánh đất nước trên vai...”(5).
Dù mẹ chẳng còn, bạn bè tan tác nhưng phố cũ và kỷ niệm còn đó
trong nghĩa tình đạo lý dân tộc, làm nên nguồn cảm hứng bao la
này qua bàn tay “họa sĩ” của anh.
Cũng vậy, sẽ không
còn những chốn dấu yêu để “trở về làng quê, bao tháng năm xa
xôi cách biệt (...). Ngược dòng thời gian, bao dấu yêu xa xưa
trở về. Nhớ hoài năm nào mẹ gian nan dãi nắng dầm sương, nhọc
nhằn chăm lo cho đàn con, miếng ăn giấc ngủ từng đêm, những
khi gió lạnh bên nhà tranh nghèo ấm êm tình thương...”(6).
Dẫu rằng cảnh cũ làng xưa còn đó nhưng nó sẽ càng để lại dấu
ấn sâu đậm hơn khi đấng sanh thành đã mất. Vì vậy thương sao
lời thương tưởng “Hỏi từng bờ đê, gió hiu hiu mẹ tôi đâu rồi.
Mái tranh im lìm nhìn hàng tre ngơ ngác buồn hiu. Mẹ hiền yêu
ơi suốt đời con, mãi luôn khắc ghi ơn mẹ cha, sẽ không phai
nhòa, tháng năm êm đềm sống bên mẹ cha”(6). Người
nhạc sĩ có những lời ca rất đẹp này lại cũng là ca sĩ, còn rất
trẻ. Ðó là Ngọc Sơn. Nhắc đến Ngọc Sơn, người viết tự đặt câu
hỏi: Nếu cũng với những ca từ đẹp về mẹ ấy mà người sáng tác
khônglà Ngọc Sơn thì chúng ta có liệt kê vào loại nhạc “sến”
không? Có lẽ là không. Vì vậy nhân đây xin nói lên suy nghĩ
chủ quan rằng cái gọi là “nhạc sến” ấy chỉ xuất hiện từ giữa
thập niên 80 (7) nhằm ám chỉ cho loại nhạc
“lụytình–rên rĩ–ướt át...” Khi những dòng nhạc mới đang thịnh
hành (Country, Pop, Rock, Rap...) hoặc cách tân, theo chiều
huớng mode để chứng tỏ mình tiến bộ. Kỳ thật, chưa có một luận
cứ khoa học nào là “không phải sến”. Rõ ràng đây là vấn đề
thuộc về thị hiếu–thẩm mỹ âm nhạc theo từng sở thích riêng,
môi một dòng nhạc đều có một bộ phận công chúng khác nhau.
Ðiều đó được thể hiện tại sao nhạc “sến” vẫn tồn tại, và đặc
biệt chính nó lại dễ dàng chuyền tải tình cảm hơn bất cứ dòng
nhạc nào, ngay cả với giới thưởng thức bình dân nhất. Theo suy
nghĩ riêng, chỉ có khác nhau chăng (“sến”) là ở từ ngữ thể
hiện trong dòng nhạc, chứ tự thân nhạc vốn đã là không “sến”.
Ngay như bản thân chúng tôi, khi thư thả nghe nhạc giao hưởng,
tình tứ hơn thì nghe nhạc jazz, rộn ràng thì nghe Pop, Rock
hoặc Rap,v.v... và còn có các thể loại tình ca khác nữa nếu
muốn có chút lãng mạn, trữ tình. Trình bày sơ lược như trên để
hiểu đôi chút về Ngọc Sơn, đặc biệt để trân trọng về một tấm
lòng dành cho bậc sanh thành qua ca khúc của anh. Tấm lòng đó
hoàn toàn hợp đạo lý dân tộc, không “sến” chút nào. Anh đi lên
từ bài “Lòng mẹ” đầu tiên của anh, rồi đến “Tình mẹ” (chưa kể
những bài nói riêng về cha), để hôm nay thật bất ngờ khi nghe
sáng tác “Ðạo làm con”, chúng tôi trộm nghĩ chưa có một bài
nhạc nào mạnh dạn viết “Con quỳ con lạy mẹ cha, ơn cha nghĩa
mẹ con đền được là bao...” Chỉ riêng từ “con quỳ con lạy mẹ
cha...” thôi cũng đủ nói lên trọn vẹn đạo nghĩa dân tộc. Cái
quỳ, cái lạy sao mà sâu xa đến vậy, không cần phải diễn đạt
nhiều lời hoa mỹ. Và chúng tôi thêm một lần trân trọng Ngọc
Sơn trong ý nghĩa báo ân cha mẹ qua âm nhạc. Chuyện riêng tư,
danh vọng, tiền tài ở anh không là mục tiêu bài viết này.
Tất nhiên, “Hiếu thế
tục chỉ hầu cơm nuóc. Hiếu Phật đà giải thoát luân hồi”, nên
nếu có được những lời ca đặc thù Phật giáo như “Mẹ là Từ bi Bồ
Tát hiện xuống bên con, mẹ là hạt mưa hạt nắng rực sáng muôn
hoa... Mẹ là chuông chùa thắm đầm ấm muôn nơi, tình mẹ là
hương ngàn hoa dịu mát không gian...” thì khó tìm được một
nhạc sĩ như Giác An trong bài “Mẹ” ấy. Hơn thế nữa, để có một
người mẹ trong Phổ Môn khi nhạc sĩ Bửu Ấn viết: “Mẹ tôi mẹ của
muôn loài, không sinh không diệt, tên là Quán âm...” (Bài
“Quan Thế âm Bồ Tát”) lại càng hiếm hơn. Lấy thời điểm gần
nhất là từ bài “Mẹ” của NS Giác An, đến nay đã 10 năm, vẫn
chưa có được bài nhạc nào tương tự để có thể đặ tvấn đề phát
huy âm nhạc Phật giáo. Câu hỏi đến nay vẫn còn nguyên giá trị
thách thức trách nhiệm của các nhà hoạt động Văn hóa Phật giáo
hiện thời.
Chú thích
1. Trả lời trong
chương trình “Tác giả - Tácphẩm” FM 99 90. Ðài TNND - TP. HCM,
năm 2000.
2. Nhạc sĩ Trịnh
Công Sơn – Một cỏi năng thuần khiếp cùng cuộc đời – Ngô Ngọc
Ngũ Long. SGGP – 10/5/1998.
3. Lời bài hát “Ngẫu
hứng sông Hồng”của NS Trần Tiến.
4. CD “Tự họa” gồm
10 ca khúc tự thuật theo dạng truyện hồi ký của NS Trẫn Tiến,
do chính NS và người cháu gái là ca sĩ Trần Thu Hà hát. CD
Phương Nam Phim phát hành tháng 10/1999.
5. Bài “Người thích
tình ca” do chính tác giả hát trong cùng CD “Tự họa”.
6. Lời bài hát “Tình
mẹ”của Ngọc Sơn.
7. Trước 75, người
ta chỉ có đánh giá một loại nhạc gọi là “nhạc thương mại”, gần
như lên án như kiểu gọi “sến” hiện nay. Tuy nhiên xét về khía
cạnh hoàn cảnh xã hội đương thời, chinh chiến bắt lính... thì
không thể đánh giá thấp người yêu thích “nhạc thương mại”,
khác xa các bài hát về “lính Cộng hòa”.
- --o0o--
|
|