CHIẾC CHÌA KHÓA

Tịnh Minh

          Một sáng mùa thu, khí trời dìu dịu, khoảng 9 giờ, chú Tâm Chơn, người dong dỏng cao, lúc nào cũng nhanh nhẹn, bước sải sải đến gặp thầy Thiện Hỷ, chấp tay ngúc ngúc cái đầu với lọn tóc rung rinh đen nhánh vắt qua tai, nói :
          - Mô Phật, bạch thầy có khách.
         - Ai vậy ? Thầy Thiện Hỷ hỏi mà hai mắt như dính chặt vào chiếc vỏ xe Dream II của thầy.
         - Làm sao con biết. Có một bà sồn sồn, ăn mặc sang trọng, phấn son thơm phức, xin gặp thầy.
          - Sao chú quan sát kỹ thế ! Mà gặp Hỷ nào mới được chứ.
          - Dạ !... à quên, để con ra hỏi lại xem.
Chùa này có hai thầy trùng tên nhưng khác biệt hiệu. Một là Thiện Hỷ “Ruga”, phụ trách nghi lễ, tán tụng lâm ly, dáng người cao ráo với khuôn mặt chữ điền và giọng nói sang sảng “trời cho”. Thầy lại có thói quen khi lên xe là đưa tay sửa cổ áo, ngồi ngay ngắn, đề xe nổ, vô ga “rịn... rịn...” vài phát cho ấm cả đất trời rồi mới nhấn số chạy. “Ruga” là vậy đó. Khi về tới chùa, chưa kịp thay áo, là thầy lau xe liền, xong khóa xe cẩn thận, cất “bửu bối” vào chiếc bóp da cá sấu hình chữ nhựt, tuy nho nhỏ nhưng toát ra vẻ điệu nghệ của một tay ngoại giao lịch lãm. Hai là Thiện Hỷ “Maha”, dáng người trung bình, da dẻ hồng hào với khuôn mặt đầy đặn và nụ cười mãn cánh vô ưu. Thầy đảm nhiệm chức vụ tri sự, lo việc tương chao ấm lạnh cho Tăng chúng.
         - Bạch thầy ... không phải, con xin lỗi. Chú Tâm Chơn từ xa nói vọng lại.
         - Ờ !... có thế chứ. Ta đang chăm sóc “người yêu” mà lại...
         Một lát sau, Maha đến tựa hai cánh tay trên yên xe, ngắm Ruga lồng ngón tay trỏ vào chiếc khăn ẩm nước, cà tới cà lui từng kẽ chân tăm trên niền xe mà ngậm ngùi, nuối tiếc :
         - Này, thầy ơi !...
         - Mô Phật !
         - Ước gì em có được đôi tay như thầy !
        - Nữa !... đã bảo đừng xưng em với Hỷ này, nhột lắm ! Thầy lớn hơn em một tuổi! Mà ước như vậy để làm chi ? Ðể lau xe đạt chất lượng hả ?
         - Cũng được. Nhưng chưa phải cốt lõi. Ai hiểu thầy hơn chính thầy. Hai ba mươi năm về trước, thầy là giáo sư, giảng sư, được luyện từ lò “bát quái” ra. Nghe nói thầy làm thơ, viết văn, dạy học hay lắm ! Giọng điệu tiết tấu của thầy khi hào hùng lẫm liệt, lúc trầm lắng thiết tha, nói chung là bâng bâng, nhưng vì sao bỗng dưng thầy chuyển hệ ? Tăng, Ni, Phật tử đang thầm trách thầy đó !
         - Trách nỗi gì ! Xay lúa thì khỏi bồng em.  Nhưng mà... dạy học, viết sách, thuyết pháp, dịch kinh, ma chay, đàn tràng..., thầy biết đấy, mỗi thứ có một thú vị riêng. Vấn đề là phải thành tâm thiện chí từng lời kinh ý kệ của Phật Tổ lưu truyền thì mới có tác dụng. Thử xem! Quỳ trước Phật đài, ngưỡng vọng dung nhan Ðức Từ Phụ mà trầm giọng xướng lên bài kệ :
          - Huỳnh kim mãn nguyệt tướng
          Tam giới độc xưng tôn
          Hàng phục nhứt thiết ma
          Chư thiên giai củng thủ.
          Tạm dịch :
          Báo thân Phật tổ lộng áng vàng
          Uy đức vang lừng khắp thế gian
          Mát nụ cười tươi – thiên đế phục
          Bao dung ánh mắt – quỷ vương hàng.
         Thì nổi da gà, sơn hà đại địa như rúng động. Hoặc đối trước linh sàng mà xướng bài pháp ngữ :
          - Quy khứ lai hề quy khứ lai
          Tây phương tịnh độ bạch liên khai
          Nhứt trận hương phong xuy hốt đáo
          Hương linh thừa thử bộ kim giai.
         Thì tự nhiên thấy có một làn gió nhẹ thoảng qua, tỏa hương thơm ngát, nâng hương linh lên từng nấc thang giải thoát. Ðó, thầy bảo Hỷ này không mê sao được. Còn nữa, xong việc ma chay, nếu tang môn quyến thuộc là Phật tử thì tín tâm của họ càng thêm vững mạnh, còn bàn dân thì cả nhà đến chùa quy y Tam bảo hoặc ít ra cũng có thiện cảm với Phật pháp. Chưa hết, cụ thể nhất là “cô” này. Thiện Hỷ búng búng ngón tay vào chiếc căm xe, nói. Gần ba năm trời ca khúc chơn ngôn “Nam mô a di đa bà dạ” và vân du khắp các cảnh giới “yên bình” mới được “cục cưng” này. Suy cho cùng, chùa mình trên thuận dưới hòa là nhờ ân đức của đại sư huynh. Thầy đã khích lệ anh em “tát đa nẫm” đều đặn quanh năm; nhiệm mầu lắm thầy ơi !
          - Mô Phật, thầy nói hay và dễ thương quá ! Maha mát dạ, cười hàm răng trắng đều như hạt lựu, tụt xuống ngồi bệt dưới sàn nhà, đối diện với Ruga.
          - Huynh nghe đấy, Hỷ này hân hạnh được biệt hiệu “Thích Ruga”, tức là hay rú ga, nhưng ai hiểu cho mình. Thôi thì : “tri ngã giả vị ngã tâm ưu, bất tri ngã giả vị ngã hà cầu”. Hỷ này mỗi khi lên xe là thầm nguyện :
          Thượng cơ xa thời
          Ðương nguyện chúng sanh
          Tiễn tham sân si
          Tốc đăng giác ngạn.
         - Ủa, ở đâu vậy ? Em không thấy trong “Tỳ ny nhựt dụng !...”
         - Nữa, cứ xưng em !... Thời Phật Tổ đâu có xe gắn máy mà có kệ này.
         - Nhưng... “tiễn tham sân si” mà thầy phát lệnh theo kiểu “rịn...rịn...” như thế thì liệu có chóng lên bờ giác ngộ không ?
          - Thầy sao ! “ ‘Tăng, Ni’ tự hữu xung thiên chí” chứ lại !...
          Không ai bảo ai, cả hai chụp vai nhau cười sảng khoái.
         - Nói gì thì nói chứ em vẫn tiếc khả năng quảng bác của thầy. Thôi, bớt đi cúng; mỗi tuần thuyết pháp một thời, dạy chúng vài buổi, được chưa ?
         - Ai cho mà thuyết ! Tăng chúng học nhiều quá còn dạy gì nữa ! Vả lại đi cúng không phải thuyết pháp sao ? Ði cúng là thuyết pháp cho người chết, giảng sư chí tâm và trung thành tuyệt đối với kinh điển; còn thuyết pháp cho người sống, pháp sư đôi lúc cao hứng nên quá đà : sống trong phương tiện mà biện thuyết toàn chơn; nói tánh nói thể mà quên tướng quên dụng, tiếc thật ! Ðó là chưa kể phong cách diễn đạt : cũng vung tay đỏ mặt, quắc mắt mím môi mỗi khi có sự cố nho nhỏ như ánh đèn chập chờn, âm thanh trục trặc. Dạy Phật tử từ bi hỷ xả mà Pháp sư lên cơn đột xuất như thế thì... tội nghiệp cho người nghe ! Chỗ anh em mới dám tâm sự. Thấy người xét mình, Hỷ này không dám hoa ngôn trước quần chúng.
          - Nhưng Phật dạy : “phương tiện quyền xảo”. Thầy có bổn phận tiếp dẫn hậu lai chứ!
          - Cảm ơn lời khuyên của sư huynh. Hỷ này muốn được như Maha nhưng không thể. Thầy biết biệt hiệu của thầy mang ý nghĩa gì không ? Maha là vĩ đại, là đáng tôn kính đó ! Ði tu mà được Tăng, Ni, Phật tử, kể cả chim muông thú vật thương yêu, quý trọng thì thật là đại phúc. Mỗi khi đi đâu về, trước con Tony, sau con Jimmy, ôm chân thầy cứng ngắt. Còn con nhồng nữa, thấy thầy là “A Di Ðà Phật...A Di Ðà Phật...khà...khà...khà ! Còn ai hơn thầy !
         - Tại em thường cho chúng nó ăn. Úi chà... mười một giờ kém mười lăm rồi, chuẩn bị quá đường thầy ơi !
                                                         *   *   *
Rồi một buổi khuya nọ, không thấy thầy nghi lễ đi công phu, thầy ít khi vắng mặt khóa tụng này. Thầt tri sự đến phòng xem thì thấy thầy nằm trùm chăn, người toát mồ hôi, lạnh ngắt. Thầy được đưa vào bịnh viện cấp cứu và được biết thầy bị bịnh thương hàn, có lẽ do hậu quả của những tháng năm đi lại trong nắng sớm mưa chiều. Thế là, sau tám tuần thều thào, da bọc lấy xương, tóc rụng gần hết, và tối nào cũng được thầy tri sự ngồi bên cạnh giường tụng kinh  Thủy sám, thầy nghi lễ mới dần dần bình phục, sắc diện hồng hào trở lạ. Từ đó, thầy không bao giờ lau  chùi xe và rút chìa ra khỏi ổ khóa. Ði đâu có Tâm Chơn chở với chiếc cặp da thường thấy trên tay hơn là túi vải  trên vai như trước kia. Còn chiếc xe thì sẵn sàn đón khách và lúc nào cũng  láng coóng.
---o0o---