Khả Năng Ðóng Góp
Của Cư Sĩ Việt Nam Ở Hải Ngoại
Nguyên Thiện
(tiếp theo kỳ trước)
--o0o--
 
II- TỔ CHỨC CẦN CÓ VÀ KHẢ NĂNG ÐÓNG GÓP CỦA CƯ SĨ PHẬT TỬ VIệT Tại HẢi NGOại
            Qua các nhận xét sơ lược nêu trên về hiện trạng đạo Phật tại các quốc gia Âu Mỹ, hẳn chúng ta cũng đã có được cái nhìn khái quát về hướng đi và nhu cầu phát triển đạo Phật tại các quốc độ này. Chúng ta thử kiểm điểm xem chúng ta đã thực hiện được gì trong hơn hai mươi năm qua trong các lãnh vực soạn thảo kế hoạch hành động, kiện toàn tổ chức cơ sở, huy động và huấn luyện nhân sự, thu hút tài nguyên.. v..v.. để từ đó có thể dự phóng khả năng đóng góp của tập thể cư sĩ Phật tử Việt Nam tại hải ngoại vào công trình phát huy đạo Phật tại các quốc độ Âu Mỹ.
            A- Thành quả hoạt động của hơn 20 năm qua:
            Kế hoạch hành động, tổ chức, cơ sở, nhân sự, tài nguyên:
Hơn 20 năm đã trôi qua, từ những lo lắng để ổn định đời sống cho bản thân và gia đình trong những năm tháng đầu tiên(năm 1975) nơi đất lạ quê người, mà từ ngôn ngữ đến phong tục tập quán, cũng như tổ chức xã hội hoàn toàn xa lạ, chúng ta đã an cư và phát triển một cách khả quan. Không thiếu những thí dụ về những thực hiện sáng chói trong nhiều lãnh vực của nhiều cá nhân và gia đình người Việt tỵ nạn, đã làm cho các sắc dân địa phương tán dương, ca ngợi và nể phục. Nhưng về mặt kế hoạch hành động hay nói cách khác tổ chức lãnh đạo chung cho toàn khối cư sĩ địa phương có tổ chức thành lập Hội Cư Sĩ Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ, nhưng chương trình hoạt động, kế hoạch vận dụng tài nguyên và khả năng đóng góp vào tiến trình phát triển Phật giáo tại Hoa Kỳ chưa có gì để lượng giá.
            Về mặt tổ chức, cơ sở, nhân sự, vận dụng tài nguyên: đại khối cư sĩ Phật tử Việt Nam vẫn theo những khuôn mẫu có sẵn từ Việt Nam, nghĩa là chỉ đóng vai trò hộ pháp qua trung gian những ngôi chùa và chư tăng ni Việt Nam. Những sinh hoạt thường thấy chỉ quanh quẩn giới hạn vào những lễ nghi như cầu an, cầu siêu, tụng kinh, bái sám.. v..v... giữa những người Việt, phần lớn là những người Việt lớn tuổi, đã có sẳn lòng tin và thói quen sinh hoạt Phật sự tại Việt Nam. Những sinh hoạt tu học, văn hoá, xã hội theo nếp sống Phật Giáo cho những người trẻ gốc Việt cũng như cho người Hoa Kỳ thật là hiếm hoi. Ngoại trừ một số rất nhỏ các lớp tu thiền do thiền sư Thích Nhất Hạnh hướng dẫn có sự tham gia của lớp trẻ, các sinh hoạt Phật sự khác hầu như hoàn toàn vắng bóng họ. Những cơ sở giáo dục(sơ cấp, trung cấp, hay đại học), phòng đọc sách hay trung tâm sinh hoạt Phật giáo cho tuổi trẻ, các cơ quan xã hội, từ thiện Phật Giáo.. v..v.. hầu như không có. Với tình trạng này không rõ trình độ hiểu biết về giáo lý Phật Ðà, nếp sống theo đạo Phật cho chính bản thân họ, chứ đừng nói gì đến việc huấn luyện, trao truyền cho thế hệ con cái của họ! Ðến bao giờ những bậc thức giả, trí thức Phật giáo mới có can đảm nhìn vào thực trạng sinh hoạt bi đát hiện nay để tìm phương cải tiến? Mong thay!
Vấn đề phát triển chùa viện Phật giáo do người Việt chủ xướng:
Trong hơn hai mươi năm qua, người Việt đã thiết lập hằng trăm, nếu không muốn nói hằng ngàn ngôi Chùa, Niệm Phật Ðường, Tịnh Xá, Trung Tâm Phật Giáo. Nhìn vào số lượng thì có vẻ rất khả quan. Nhưng nếu nhìn kỹ về phẩm chất cơ sở cũng như vào sinh hoạt Phật sự tại những tự viện này, chúng ta không thể không lo lắng về sự duy trì chứ đừng nói đến sự phát triển của những cơ sở này trong tương lai. Ngoại trừ một số nhỏ ngôi chùa có tầm vóc và hội đủ điều kiện pháp lý là đạo tràng thanh tịnh, là nơi chốn khả dĩ thu hút được đại chúng đến để tu tâm luyện tánh, phần lớn chỉ là những ngôi nhà nhỏ thiếu tiện nghi, không cây cảnh, thiếu vắng không khí của chốn thiền môn, bất hợp pháp nằm chung đụng trong những khu dân cư. Tăng thân thì thật là hạn hẹp và thiếu sinh khí, nhiều tự viện không có tăng ni hướng dẫn việc tu học. Chính đa số những cơ sở thiếu phẩm chất này đã thu hút một số tài nguyên quan trọng mà không mang lại được những kết quả tu học khả quan gì cho đại chúng, ngoài việc duy trì một số sinh hoạt nặng tính chất tín ngưỡng. Tình trạng phân hóa về tổ chức và cơ sở nêu trên đã không những gây khó khăn cho chính những tự viện nhỏ này, mà còn ảnh hưởng đến việc phát triển chung của những ngôi Chùa hay Tu Viện hội đủ tầm vóc vì số lượng Phật Tử vốn đã ít lại bị phân tán nhỏ. Số lượng Tăng Ni, và những cư sĩ có kiến thức Phật Học vững vàng vốn đã ít oi lại càng khó khăn hoạt động vì phải tự lo liệu một số lớn những sinh hoạt có tính cách trùng lập tại quá nhiều cơ sở. Một ví dụ điển hình, chỉ nhìn vào tình trạng ấn tống kinh sách, chúng ta cũng đã không khỏi châu mày vì phí phạm quá nhiều tài nguyên, một quyển Kinh Nhật Tụng đơn giản mà đã phải tốn công sắp chữ hay đánh máy, trình bày lại để in ấn cả vài trăm lần là chuyện thường, đáng lẽ phải được soạn thảo nghiêm túc và in ấn một lúc cả chục ngàn hay trăm ngàn cuốn để phân phối đến các tự viện thì giá đơn vị sẽ chỉ bằng 1% hay 1/200. Còn bao nhiêu ví dụ khác như tranh tượng Phật, chuông mõ, những pháp khí khác... cũng phí phạm tương tự vì sự trùng lập nhiều lần nói trên. Không những thế, tình trạng phí phạm tài nguyên này đã làm giảm sút rất nhiều phẩm chất cần có để thu hút hành giả tại những tự viện lớn, vì không đủ tài nguyên để xây dựng những công trình vĩ đại xứng đáng như những ngôi nhà thờ lớn của dân địa phương hay ngay cả một vài chùa Phật Giáo lớn của người Trung Hoa, Nhật Bản hay Tây Tạng tại Hoa Kỳ.
Cơ Sở Xuất bản, truyền thông và giáo dục Phật giáo:
Ngoài trung tâm xuất bản kinh sách do Phật Học Viện Quốc Tế chủ trương, nhà xuất bản Lá Bối và Parallax do những môn sinh Thiền Sư Thích Nhất Hạnh phụ trách, và một vài nhà xuất bản có tính cách tông môn khác, chúng ta chưa có một nhà xuất bản, phát hành kinh sách Phật giáo có tầm vóc và ảnh hưởng đến đa số đọc giả người bản xứ(Kinh sách Phật giáo bằng Anh ngữ).
            Ngoài Viện Ðại Học Ðông Phương do Hoà Thượng Thích Thiện Ân chủ xướng của thập niên 1970 mà nay không còn hoạt động hữu hiệu, khối Phật tử Việt Nam chưa có tổ chức một tu viện hay viện nghiên cứu Phật Học nào có tầm vóc, không có một cơ sở hay học trình nghiên cứu hay phổ biến Phật Giáo Việt Nam nào có liên  hệ đến các trường Ðại Học danh tiếng tại Hoa Kỳ. Ngoài hai tác phẩm của HT Thích Thiện Ân viết vào thập niên 1960, mà một số tác phẩm dạy thực hành thiền tỉnh thức của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh, không còn tác phẩm nào khác bằng Anh ngữ có tầm vóc kiến giải về Phật Giáo Việt Nam và lối tu học Phật Ðạo của người Việt để phổ biến cho quần chúng học Phật địa phương. Duyệt qua khối lượng hằng ngàn ấn phẩm viết về Ðạo Phật bằng Anh ngữ phổ biến trên thị trường sách báo Hoa Kỳ, hàng trí thức Phật Giáo Việt Nam không khỏi ngỡ ngàng nếu không nói là hổ thẹn về niềm hãnh diện hai ngàn năm văn minh Phật Giáo của dân tộc mình.
Ðề Nghị:
Sau khi đã duyệt qua nhu cầu và hiện trạng sinh hoạt Phật giáo tại hải ngoại, chúng tôi xin mạo muội đề nghị một số dự phóng công tác sau đây để chúng ta bàn thảo hầu thiết lập một kế hoạch hành động cụ thể đóng góp vào tiến trình phát triển Ðạo Phật nói chung và Việt Phật nói riêng tại Âu Mỹ.
            A- Quán Chiếu Tự Thân:
Ðã đến lúc hàng thức giả Phật Tử Việt Nam cần can đảm nhìn thẳng vào thực tế Phật sự tại địa phương, để dũng mãnh tìm cách cải tiến trước khi quá trễ. Không thể nào chúng ta xây dựng được một cộng đồng Phật Giáo có tiềm năng tại hải ngoại để hỗ trợ lâu dài việc hộ trì Phật Giáo trong nước, khi chính con em của chúng ta chưa được giáo huấn, vun bồi một nền móng đạo đức vững chắc, đặt nền tảng trên giáo lý Phật Ðà. Chúng ta phải tỉnh thức để quán chiếu thâm sâu niềm an lạc, hạnh phúc cần có của chính chúng ta và của con em chúng ta, trong khung cảnh bức bách, nhiều cám dỗ, sa đọa của vật chất tại các xã hội Âu Mỹ. Chúng ta phải có an lạc và hạnh phúc, cũng như có khả năng mang an lạc và hạnh phúc đến cho con em chúng ta, những người trẻ gốc Việt tại hải ngoại, sau đó mới mong có khả năng giúp lo việc hộ trì Phật sự trong nước: Tiêu trừ pháp nạn. Nếu không chúng ta sẽ tự tạo cho chính chúng ta, khi con em của chúng ta, những người trẻ gốc Việt đã lớn lên và lìa xa cội nguồn Việt Phật. Chúng ta sẽ mất tất cả! Hãy nhìn và cảnh tỉnh tình trạng bị Âu Mỹ hóa và coi trọng vật chất của những người trẻ thuộc sắc dân Trung Hoa, Nhật Bản, Ðại Hàn, Thái Lan, đến định cư tại Hoa Kỳ trước chúng ta. Chúng ta không thể quá tự tin mà mê vọng về một tương lai tốt đẹp cho con em của chúng ta như một biệt lệ, nếu chúng ta không bắt tay vào việc tạo môi trường thuận lợi cho lớp trẻ gốc Việt được học, hiểu để thực hành giáo lý và nếp sống đạo đức theo khuôn mẫu Phật đạo.
            B- Tổ Chức, Cơ Sở:
Về phía Tăng Sĩ:
Chúng con xin đê đầu đãnh lễ Qúy Ngài, là những trưởng tử của Như Lai. Hãy thương xót những chúng sanh trong thời mạt pháp mà chóng dùng Giới Ðịnh Tuệ ba vũ khí sắc bén, hợp cùng Tứ Vô Lượng Tâm để mau hoàn chỉnh việc hòa hợp tăng đoàn, thống nhất tổ chức, thành lập tăng thân theo đúng giới luật mà Ðấng Thế Tôn đã chế định; để hướng dẫn chúng con trên con đường tu đạo giải thoát, bớt khổ thêm vui. Khẩn khoản van xin Quý Ngài, vì Ðạo cả mà dùng kiếm trí tuệ chặt phăng những ràng buộc tục tướng, buông bỏ những chùa chiền, tự viện, niệm Phật đường, tịnh xá, thiếu điều kiện, bất hợp pháp, không đúng nghĩa Ðạo Tràng Thanh Tịnh mà qui về một mối, thành lập những tu viện đúng nghĩa, xứng đáng và hợp với giới luật để tiến tu đạo nghiệp, xiển dương giòng giống Thích Ca. Qúy Ngài đã thị hiện y báo, chánh báo tròn đầy, kết quả tu chứng của nhiều đời nhiều kiếp mà thệ nguyện xuất gia, là trưởng tử của Như Lai, kính xin Quý Ngài dùng tâm đại bi, dùng kiếm trí tuệ, mà dũng mãnh dạy dỗ chúng con học, hiểu và tu trì chánh pháp, để mong chóng hoàn thành tiến trình giác ngộ vô vàn cam go, và giúp cho chúng con bớt khổ vì chia rẽ, lo âu.
Về Phía Cư Sĩ:
Là con nhà Phật trong bốn chúng, chúng ta phải làm hết sức mình để ủng hộ pháp. Dùng sức mạnh của bố thí, nhẫn nhục, chúng ta phải tâm nguyện tinh tấn hỗ trợ toàn vẹn và bình đẵng để Tăng thân có đầy đủ hoàn cảnh và phương tiện mà thanh tịnh dõng mãnh hoằng truyền Chánh pháp của Như Lai. Chúng ta phải tâm nguyện hỗ trợ toàn vẹn và bình đẳng những Tăng thân theo đúng giới luật của Thế Tôn. Trên lấy trí tuệ làm sự nghiệp, dưới hóa độ quần sanh làm mục tiêu. Nhưng cũng phải dùng trí tuệ sáng suốt, dõng mãnh dứt khoát không để tình cảm lôi cuốn để lâm vào cảnh đi ngược hướng mà đọa lạc trong ba đường ác.
            Cần phải có ngay một tổ chức chung cho toàn quốc Hoa Kỳ với chi nhánh thống thuộc tại các thành phố lớn, tổ chức dưới dạng thức Cơ quan văn hoá, xã hội Phật Giáo, không vụ lợi(A Non Sectarian Buddhist Cultural, Social Foundation, Not-For-Profit Corporation), của hàng ngũ cư sĩ Phật Giáo Việt Nam tại hải ngoại đứng ngoài mọi hệ phái, tông môn để hướng dẫn mọi sinh hoạt Phật sự cho quần chúng Phật Tử gốc Việt và mọi người con Phật khác muốn tìm học giáo lý Phật Ðà.
            C- Kế hoạch hoạt động:
1- Ngắn Hạn & Ngay Tức Khắc:
Các tự viện và tổ chức Phật giáo cần phải lập ngay những thống kê về các thành phần tuổi trẻ gốc Việt tại mỗi địa phương hay cơ sở hoạt động của mình. Sau khi nắm vững dữ kiện về những người trẻ này, cần thành lập ngay một Ban Hướng Dẫn để soạn thảo một chương trình sinh hoạt hầu đáp ứng nhu cầu của họ. Trong giai đoạn đầu cần thu hút họ bằng những sinh hoạt vui tươi nhẹ nhàng như tập hát những bài ca hợp với tuổi trẻ, những trò chơi lành mạnh, những buổi học chữ Việt, những buổi cắm trại hay sinh hoạt ngoài trời.. v..v.. Sau đó sẽ hướng dẫn tiến lên trình độ cao hơn về âm nhạc, vũ khúc, kịch nghệ, hội họa, văn chương có nội dung hợp với tuổi trẻ trong khuôn khổ văn hóa, phong tục, đạo đức dân tộc. Và sau cùng là những lớp học Phật Pháp căn bản.
            Ðể dễ thu hút và tạo sinh khí cho những lớp dạy tiếng Việt, sinh hoạt văn nghệ, cần tổ chức các cuộc tranh đua, phát chứng chỉ mãn khóa, bằng ban khen, giải thưởng... và nhất là triển lãm các tác phẩm do các em sáng tạo vào những dịp lễ do cộng đồng tổ chức như Tết Nguyên Ðán, Mùa Phật Ðản,  Mùa Vu Lan, Tết Trung Thu.. v..v.. Và nếu có thể, khuyến khích, giúp đỡ phương tiện để họ tham gia vào các hội chợ, các cuộc triển lãm do cộng đồng các sắc tộc khác tại địa phương tổ chức, ví dụ như: Youth Fair, Asian American Festival...
            Cổ động các mạnh thường quân, các thương gia giúp thành lập một Quỹ Phát Giải Thưởng và cấp Học Bổng cho các học sinh, sinh viên Phật Tử gốc Việt xuất sắc tại mỗi địa phương(từ cấp tiểu học, trung học cấp 1, Tú Tài, Cử nhân).
            Tổ chức các cuộc tranh biện (debating contest) bằng tiếng việt, các cuộc tranh tài bằng luận văn(Essay contest) tiếng Việt... Phổ biến kết quả các cuộc tranh biện, những bài luận văn xuất sắc trúng giải... bằng giai phẩm vào những dịp lễ lớn nêu trên.
2- Trung Tâm Văn Hóa, Xã Hội Việt Phật:
            Khi đã tạo được những sinh hoạt thường xuyên trên, cần thiết lập ngay một trung tâm văn hóa, xã hội Việt để xin trợ cấp của chính phủ địa phương(quận, tiểu bang). Cần ghi nhận rằng chùa hay cơ sở tôn giáo thì không được chánh phủ giúp đỡ, nhưng các Trung Tâm Văn Hóa, Xã Hội thì có rất nhiều qũy thuộc các cơ quan chính quyền địa phương, tiểu bang, các cơ sở văn hóa tư nhân(private foundations) hỗ trợ qua các chương trình trợ cấp(Grants, Cultural Funds)
            Song song với các chương trình văn hóa nêu trên, Trung Tâm còn có thể tổ chức các dịch vụ để tạo lợi tức cho Trung Tâm như trung tâm giữ trẻ(day care center), lớp dạy nghề(vacational training).. v..v.. Những chương trình có tính cách xã hội này tạo thêm uy tín giúp Trung Tâm dễ chứng minh hoặc xin các ngân khoản trợ cấp của chính quyền và các cơ sở văn hóa tư nhân nêu trên.
            Cần Tổ chức những phòng đọc sách báo có nội dung văn hóa, phong tục dân tộc và các kinh sách về giáo lý và truyền thừa Việt Phật để tạo cơ duyên cho những người muốn tìm hiểu văn hóa và đạo Phật Việt Nam.
3- Viện Nghiên Cứu Phật Giáo/Trung Tâm Tu Học Việt Phật:
            Nếu chúng ta có thể thực hiện thành công được những sinh hoạt, chương trình, trung tâm văn hóa nêu trên, bước kế tiếp sẽ tổ chức Viện Nghiên Cứu Phật Giáo và Trung Tâm Tu Học Việt Phật để tạo cơ hội cho những sinh viên, học giả gốc Việt cũng như bản xứ muốn nghiên cứu và tu học Việt Phật. Ðể thu hút những sinh viên đại học, Viện cần phải sinh hoạt dưới sự bảo trợ của một viện đại học (affiliation with an University, e.g., institute for Research and Teaching/Practicing Vietnamese Buddhism affliated with the UCLA University in Los Angeles or University of California in San Jose, or Berkeley... ) hay tối thiểu, tổ chức những buổi nói chuyện về Phật Pháp tại các viện đại học địa phương(community college) để tạo duyên với các tầng lớp sinh viên, gieo mầm Bồ Ðề trong đại chúng địa phương.
4- Cơ Sở Xuất Bản và Phát Hành Kinh Sách Việt Phật bằng ngoại ngữ:
Ðể hỗ trợ tài liệu giảng dạy cũng như tạo phương tiện tài chánh để sinh tồn, một cơ sở xuất bản và phát hành kinh sách Việt Phật sáng tác hay dịch thuật bằng Anh Ngữ thông dụng khác như Pháp Ngữ chẳng hạn... cần phải được tổ chức song song với Viện Nghiên Cứu nêu trên. Trong giai đoạn đầu có thể thu xếp với nhà xuất bản Parallax để phổ biến những kinh sách của Thiền Sư Nhất Hạnh, và các nhà xuất bản khác như Wisdom, Shambhala, Snow Lion... về kinh sách bằnh Anh Ngữ và nhất là những kinh sách của H.T Thiên Ân.. v..v... và dần dần khuyến tấn chư tăng cũng như các học giả sáng tác hay dịch thuật một số kinh sách nổi tiếng thuộc truyền thừa Việt Phật bằng Anh Ngữ hay song ngữ để hoằng truyền chánh pháp tại các quốc độ Âu Mỹ.
5- Cơ Quan Truyền Thông, Hệ Thống Tin Học(TV, Radio, Media, Internet web site):
Cần tận dụng một cách hữu hiệu phương tiện truyền thông thời đại để quảng bá giáo lý và nếp sống Ðạo Phật trên các đài truyền thanh, truyền hình, siêu xa lộ tin học.
6- Hệ Thống Quán Cơm Chay:
Trào lưu ăn chay đang thịnh hành trên thế giới Âu Mỹ. Cần tổ chức những cửa hàng bán cơm chay, phần để khuyến tấn lòng từ bi theo nếp sống Phật Giáo, phần để gây quỹ hổ trợ các cơ sở Phật giáo.
7- Chương Trình Giáo Dục Tình Thương Tại Quốc Nội:
Trong hạnh nguyện Bồ Tát, dĩ nhiên chúng ta không thể chỉ lo cho con em chúng ta tại các quốc độ tạm dung, vì ngày nào chế độ Cộng Sản còn thống trị trên đất nước Việt Nam, ngày đó nghèo đói, ngu dốt còn lan tràn trên 70 triệu đồng bào ruột thịt tại quê nhà; vì ngu dốt và nghèo đói là hai loại vi trùng cần thiết để nuôi sống chủ thuyết nhân bản Cộng Sản. Một phương pháp hữu hiệu để hoá giải quốc nạn, là chận đứng chính sách ngu dân của chế độ độc tài thâm độc Cộng Sản, giúp cung cấp những phương tiện giáo dục cho lớp trẻ trong nước được ăn học tối thiểu phải biết đọc, biết viết để hiểu được quyền làm người của mình. Gác bỏ mọi bất đồng chính kiến, không ai có thể phủ nhận được tương lai của đất nước Việt Nam nằm trong tay những thế hệ trẻ tuổi trong cũng như ngoài nước. Ngay cả khi chính thể Cộng sản bị giải thể, một khối lượng đông đảo những người trẻ tuổi dốt nát, mù chữ, là một gánh nặng vô cùng khó khăn để vượt qua trong tiến trình xây dựng lại đất nước. Ngày nào nghèo đói và ngu dốt còn lan tràn trên quê hương thân yêu Việt Nam, ngày đó Cộng Sản còn đất sống!
Trên đây là một vài đề nghị sơ khởi căn bản, có tính cách gợi ý để thảo luận hầu soạn thảo một chương trình và kế hoạch hành động chung cụ thể, đầy đủ và khả thi hơn. Tham luận viên, hoan nghênh mọi ý kiến đóng góp để hình thành một tổ chức,cơ sở, kế hoạch hoạt động hầu hoằng truyền văn minh và văn hóa Việt Phật cho các thế hệ con em chúng ta đang bơ vơ hụt hẫng trong cơn lốc khủng hoảng văn hóa tại các quốc gia tạm dung. Là Phật tử, là những phụ huynh thao thức, trước nguy cơ có thể mất mát nếp sống đạo đức, phong hóa đã được trao truyền từ ông cha, thầy tổ qua hơn hai nghìn năm, chúng tôi khẩn thiết kêu gọi qúy liệt vị, vì hạnh phúc của chính mình, hạnh phúc của con em mình, dùng đức kham nhẫn và tứ vô lượng tâm, để tạm gác qua những dị biệt nếu có về chính kiến, về tông môn, về phương thức hành động, mà chung sức đâu cật, kẻ công người của, người trí huệ, để cống hiến cho con em chúng ta một môi trường thuận lợi, một hướng đi đứng đắn khả dĩ mang lại niềm an lạc và hạnh phúc theo mô thức mà ông cha thầy tổ đã dày công tạo dựng và trao truyền cho chúng ta đến ngày nay. Chúng ta phải tập trung tim óc, đầu tư vào việc huấn luyện tuổi trẻ gốc Việt, trao truyền cho họ những tinh ba của nền văn minh và đạo đức của nếp sống Việt Phật để giúp họ có khả năng kế thừa sứ mạng thiêng liêng gìn giữ và thăng hoa nền văn minh và văn hóa này trong khi chờ thời cơ thuận tiện về quang phục quê hương.
Hơn hai mươi năm đã trôi qua, nước mất, nhà tan, gia đình ly tán, chúng ta đã bị quá nhiều khổ nạn vì những chiêu bài, chủ thuyết chính trị, những trào lưu tư tưởng ngoại lai đã làm phân hóa cùng cực tổ chức xã hội, giá trị tâm linh của người dân Việt, đang lưu lạc dung thân tạm bợ trên khắp năm châu, hay đang bị lưu đày ngay chính trên quê hương mình. Ðã đến lúc chúng ta tỉnh dậy, dũng mãnh phá bỏ mọi xiềng xích của vô minh, đạp đổ gông cùm của ý thức hệ, tư tưởng ngoại lai, để xây dựng lại đời sống an lạc hạnh phúc cho chính mình, cho con em của chúng ta theo ngọn đuốc từ bi và trí tuệ mà chư Phật, chư Bồ Tát cùng lịch đại Tổ Sư đã thắp sáng và trao truyền cho chúng ta qua suốt chiều dài lịch sử Việt tộc.
Về phần các anh chị em tuổi trẻ gốc Việt, anh chị em cần giúp chúng tôi bằng cách cố gắng tham dự tích cực với phụ huynh trong tiến trình tạo môi trường để anh chị em có cơ hội tìm hiểu, học hỏi, và thực tập những nếp sống an lạc hạnh phúc theo mô thức đạo đức và kinh nghiệm cuộc sống gia đình mà ông cha chúng ta đã tạo dựng, chứng nghiệm và trao truyền lại cho chúng ta. Hãy kiên nhẫn với lòng hiểu biết, khoan dung để cùng theo đuổi cứu cánh an lạc hạnh phúc cho chính quý anh chị em, mà cũng chính là niềm an lạc và hạnh phúc cho các đấng phụ huynh, vì không ai thương yêu anh chị em bằng cha mẹ, anh, chị, em của qúy vị. Anh chị em phải vô cùng thận trọng để tránh Hiện Tượng Chuối Vàng(banana phenomenon) đã xảy ra cho các bạn trẻ Nhật Bản, Ðại Hàn trước đây, và lần nầy có thể sẽ xảy ra cho chính anh chị em tuổi trẻ gốc Việt.
Kính chúc qúy liệt vị chóng thành công trong trọng trách vĩ đại này.
Nam Mô Ðại Từ Ðại Bi Cứu Khổ Cứu nạn Linh Cảm Ứng Quán Thế Âm Bồ Tát.
            Om Mani Padme Hum.
 
Ghi Chú:
1- Jonh Snelling, The Buddhist Handbook, innere Traitions international, 1991
            2- Nanamoli, The life of the Buddha, Kandy B.P.S 1978
            3- Bốn Chân Lý(Catvary Arysatyani):
            - Khổ đế (Duhkam)- về thân( già, bệnh, chết), về tâm(tham, sân, si), về đời sau( địa ngục, ngạ qủy, súc sanh), bát khổ v.v...
            - Tập đế (Samudayah)- nguồn gốc của sự khổ
            - Diệt đế (Nirodhah) - đoạn trừ các sự khổ
            - Ðại đế ( Margah)- con đường dẫn đến Niết Bàn, giải thoát (Bát chánh đạo)
            4- Triết lý duyên khởi, hay 12 duyên khỏi:
            a- Quán Thuận: 
- Vô minh(Avidya)                
            - Hành(Samskarah)                                  
            - Thức(Vijnanam)                                    
            - Danh sắc(Namarupoam)                        
            - Lục nhập (Sadayatanam)                        
            - Xúc (Sparsah)                                                     
            - Thọ (Vedana)                                                     
            - Ái (Trsna)                                               
            - Thủ (Upadanam)                                     
            - Hữu (Bhavah)                                                     
- Sanh( Jatih)                                            
- Lão tử(Jaramaranam)
b- Quán Ngược:
- Lão Tử
- Sanh
- Hữu
- Thủ
- Ái
- Thọ
- Xúc
- Lục nhập
- Danh sắc
            - Thức
- Hành
- Vô minh
5- Lục Ba La Mật(Paramita)
            - Bố thí (Dana patamita)
- Trì giới (Sila paramita)
- Nhẫn nhục (Ksanti paramita)
- Tinh tấn (Viriya paramita)
            - Thiền định (Dhyana paramita)
- Trí huệ (Prajna paramita)
            6- Bát chánh đạo (Arystanga marga namani)
            - Chánh kiến (Samyakdristih)
            - Chánh tư duy (Samyaksamỳ kimalpah)
            - Chánh ngữ (Samyagvak)
            - Chánh nghiệp(Samyakkarmantah)
            - Chánh mạng (Samyagajivah)
            - Chánh tinh tấn ( Samyagvyayamah)
            - Chánh niệm (Samyaksmritih)
            - Chánh định ( Samyaksadhih)
            7- Ngũ giới (Panca sila)
            - Không sát sanh (Pranatipatadviratih)
            - Không trộm cướp (Adttadanadviratih)
            - Không tà dâm (Kamamithyacaraviratih)
            - Không nói láo (Mrsavadatviratih)
            - Không dùng chất say (rượu, ma túy) ( Madyapanaviratih)
            8- Thập Thiện pháp
            Thuộc thân nghiệp:
- Không sát sanh(Pranatipatadviratih)
            - Không trộm cướp(Adattadanaviratih
            - Không tà dâm(Kamamithyacaraviratih)
            Thuộc khẩu nghiệp:
- Không nói dối (Mrsavadatviratih)
            - Không nói thêu dệt(Sambhinnapralapatprativiratih)
            - Không nói lưỡi hai chiều(Paisunyatprativiratih)
- Không nói hung ác(Parusyatprativiratih)
            Thuộc ý nghiệp:       
- Không tham lam (Abhidhyayahprativiratih)
            - Không sân hận, tức giận(Vyapadatprativiratih)
- Không si mê(mithyadrstehprativuratih)
            9- Carl GustavJung (1875-1961) of Zurich
-- o0o --