LÂM TẾ CHÚC THÁNH
Sơ Lược Về Sự Hình Thành & Phát Triển
Thiền Phái
LÂM TẾ CHÚC THÁNH PHÚ YÊN
& Tổ Đình Pháp Hội, Bình Thuận
                                            Nhất Quán - Thích Đồng Trung
---o0o---
I- NGUỒN GỐC TRUYỀN THỪA CỦA THIỀN TÔNG
1. Tại Ấn Độ
Khi nói về nguồn gốc của thiền tông là chúng ta liên tưởng ngay đến Pháp Hội Linh Sơn, thời điểm quan trọng khi đức bổn sư truyền trao chánh pháp nhãn tạng cho Tôn Giả Ma Ha Ca Diếp thừa kế ngôi vị thiền tổ thứ nhất. Sau đó dòng thiền được truyền trao cho chư tổ kế tiếp, đến đời Ngài Bồ Đạt Ma là tổ thứ 28. Sau khi được Tổ Bát Nhã Đa La truyền pháp và phú chúc Ngài sang Trung Hoa truyền đạo; vâng lời Thầy, nên Ngài đã dùng thuyền vượt biển sang Trung Quốc. Ngài lênh đênh trên biển gần ngót ba năm, thuyền mới cặp bến Quảng-Châu, nhằm đời nhà Lương niên hiệu Phổ-Thông năm đầu (520 sau T.C.), ngày 21 tháng 9 năm Canh-Tý. Thích-sử tỉnh nầy ra đón tiếp Ngài, đồng thời dâng sớ về triều tâu vua Lương-Võ-Đế. Vua được sớ, liền sai sứ lãnh chiếu chỉ đến thỉnh Ngài về Kim-Lăng (Kinh đô nhà Lương).
2. Tại Trung Quốc
Qua những cuộc đối thoại, Vua Lương Võ-Đế không lãnh ngộ được thiền cơ, Tổ Bồ Đề Đạt Ma thấy Vua Lương Võ Đế chỉ là một phật tử thuần thành trong việc hộ đạo, của một người phật tử tại gia. Ngài biết căn cơ chẳng hợp, tạm lưu lại đây ít hôm. Đến ngày 19, Ngài bỏ vua Lương, âm thầm sang sông qua Giang-Bắc. Ngài nhập cảnh nước Ngụy đi đến Lạc-Dương nhằm đời Hậu-Ngụy, vua Hiếu-Minh-Đế niên hiệu Chánh-Quang năm đầu (520 TL.) ngày 23 tháng 11. Ngài dừng trụ tại chùa Thiếu-Lâm ở núi Trung-Sơn, trọn ngày ngồi xây mặt vào vách im lặng. Tăng chúng đều không hiểu được Ngài tu pháp môn gì, và người đời gọi Ngài là Thầy Bà-la-môn ngồi nhìn vách (Bích quán Bà-la-môn).
Và nhân duyên đã đến, có vị Tăng tên Thần-Quang học thông các sách, giỏi lý diệu huyền, nghe danh Ngài tìm đến yết kiến. Qua những trắc nghiệm thử thách, Ngài nhận làm đệ tử ban phát đạo hiệu là Huệ Khả. Cơ duyên đã đến Ngài truyền trao y bát cho Nhị Tổ Huệ Khả.
Nếu tính từ thời Đệ Nhất Thiền Tổ Ma Ha Ca Diếp thì Ngài Huệ Khả là thiền tổ đời thứ 29, nhưng tại Trung Hoa là thiền tổ thứ hai. Như thế dòng thiền luân lưu tại Trung Hoa cũng từ đó đến đời thứ sáu Lục Tổ Huệ Năng tại Trung Hoa, nhưng mà là thiền tổ đời thứ 33 trong thiền tông Ấn - Hoa.
Cũng tại Trung Hoa, sau Lục Tổ Huệ Năng - Đại Giám thì dòng thiền được truyền thừa cho Nam Nhạc - Hoài Nhượng đời 34, Mã Tổ - Đạo Nhất (đời 35), Bách Trượng - Hoài Hải (đời 36), Hoàng Bá - Hy Vận (đời 37), Lâm Tế - Nghĩa Huyền (đời 38); Ngài Lâm Tế - Nghĩa Huyền thành lập Tông Lâm Tế nên là Sơ Tổ Tông Lâm Tế. Hưng Hóa - Tồn Tưởng (đời 39), Đời thứ 2 Tông Lâm Tế Chánh Tông; Nam Viện - Huệ Ngung (đời 40), đời thứ 3 Tông Lâm Tế Chánh Tông; Phong Nguyệt - Diên Chiểu (đời 41), đời thứ 4 Lâm Tế Chánh Tông; Thủ Sơn - Tỉnh Niệm (đời 42), đời thứ 5 Lâm Tế Chánh Tông; Phần Dương - Thiện Chiểu (đời 43) đời thứ 6 Lâm Tế Chánh Tông; Thạch Sương - Sở Viên (đời 44), đời thứ 7 Lâm Tế Chánh Tông; Dương Kỳ - Phương Hội (đời 45), đời thứ 8 Lâm Tế Chánh Tông; Bạch Vân - Thủ Đoan (đời 46), đời thứ 9 Lâm Tế Chánh Tông; Ngũ Tổ - Pháp Diễn (đời 47), đời thứ 10 Lâm Tế Chánh Tông; Viên Ngộ - Khắc Cần (đời 48), đời thứ 11 Lâm Tế Chánh Tông; Hổ Khưu - Thiện Long (đời 49), đời thứ 12 Lâm Tế Chánh Tông; Ứng Am – Đàm Hoa (đời 50), đời thứ 13 Lâm Tế Chánh Tông; Mật Am - Hàm Kiệt (đời 51); đời thứ 14 Lâm Tế Chánh Tông; Phá Am – Tổ Tiên (đời 52), đời thứ 15 Lâm Tế Chánh Tông; Vô Chuẩn - Sư Phạm (đời 53), đời thứ 16 Lâm Tế Chánh Tông; Tuyết Nham - Tổ Khâm (đời 54), đời thứ 17 Lâm Tế Chánh Tông; Cao Phong - Nguyên Diệu (đời 55), đời thứ 18 Lâm Tế Chánh Tông; Trung Phong - Minh Bổn (đời 56), đời thứ 19 Lâm Tế Chánh Tông; Thiên Nham - Nguyên Trường (đời 57), đời thứ 20 Lâm Tế Chánh Tông; Vạn Phong - Thời Úy (đời 58 Thiền Ấn - Hoa) đời 21 Lâm Tế Chánh Tông tại Trung Hoa.
Ngài Vạn Phong - Thời Ủy, cho ra bài kệ mới gồm 20 chữ:
- Tổ Đạo Giới Định Tông
Phương Quảng Chứng Viên Thông
Hạnh Siêu Minh Thiệt Tế
Liễu Đạt Ngộ Chơn Không.
Đến Hòa thượng Ngộ Thiệu Minh Lý (đời 39 Thiền Lâm Tế) chùa Thập Tháp Di Đà cho thêm 4 câu, 20 chữ:
- Như Nhật Quang Thường Chiếu
Phổ Châu Lợi Ích Đồng
Tín Hương Sinh Phước Huệ
Tương Kết Chấn Từ Phong.
Ngài Vạn Phong - Thời Ủy có hai đệ tử xuất sắc là:
Tổ Đức tức là Bảo Tạng - Phổ Trí (59), đời thứ 22 Tông Lâm Tế, và Tổ Định - Tuyết Phong (đồng thời đời 22 tông Lâm Tế Trung Hoa), kế thừa chùa Thiên Đồng. Tiếp theo thiền sư  Tổ Đức - Bảo Tạng - Phổ Trí thì có:
Đông Minh - Huệ Nhạc (đời 60), đời thứ 23 Tông Lâm Tế; Hải Chu - Vĩnh Từ (đời 61), đời thứ 24 Lâm Tế Chánh Tông; Bảo Phong - Trì Tuyên (đời 62), đời thứ 25 Lâm Tế Chánh Tông; Thiên Kỳ - Bổn Thụy (đời 63), đời thứ 26 Lâm Tế Chánh Tông; Tuyệt Học – Minh Thông (đời 64), đời thứ 27 Lâm Tế Chánh Tông; Tiếu Nham - Đức Bảo (đời 65), đời thứ 28 Lâm Tế Chánh Tông; Huyễn Hữu - Chánh Truyền (đời 66), đời thứ 29 Lâm Tế Chánh Tông.
Ngài Huyễn Hữu - Chánh Truyền có hai đệ tử nổi danh là Thiền Sư Mật Vân - Viên Ngộ trụ trì chùa Thiên Đồng, và Viên Tu - Thiên Ấn trụ trì chùa Khánh Sơn.
Mật Vân - Viên Ngộ (đời 67), đời thứ 30 Lâm Tế Chánh Tông; Về sau Thiền sư Mộc Trần - Đạo Mân đắc pháp với Thiền sư Mật Vân – Viên Ngộ, nên có pháp danh Thông Thiên - Hoằng Giác (đời 68), đời thứ 31 Lâm Tế Chánh Tông.
Ngài Mộc Trần - Đạo Mân tức là Thông Thiên – Hoằng Giác cho ra bài kệ:
- Đạo Bổn Nguyên Thành Phật Tổ Tiên
Minh Như Hồng Nhật Lệ Trung Thiên
Linh Nguyên Quảng Nhuận Từ Phong Phổ
Chiếu Thế Chơn Đăng Vạn Cổ Truyền.
Tiếp theo tổ Mộc Trần - Đạo Mân là Khoáng Viên - Bổn Quả (đời 69), đời thứ 32 dòng Lâm Tế Chánh Tông; Siêu Bạch - Thọ Tông (đời 70), đời thứ 33 dòng Lâm Tế Chánh Tông; Minh Hải - Đắc Trí - Pháp Bảo (đời 71), đời thứ 34 dòng Lâm Tế Chánh Tông.
3. Tại Việt Nam
Như chúng ta biết, thiền phái Lâm Tế tuy đã được Thiền sư Lâm Tế - Nghĩa Huyền lập tôn rất sớm tại Trung Hoa, nhưng mãi cho đến năm 1633 mới được Thiền Sư Chuyết Công và Minh Hành Tại Tại truyền vào Đàng Ngoài của Đại Việt (Việt Nam). Còn Thiền Phái Lâm Tế Đàng Trong thì mãi cho đến năm 1665 tức là cho đến 32 năm sau mới được Thiền Sư Nguyên Thiền - Hoán Bích truyền vào Đại Việt. Về sau dòng Thiền Lâm Tế cả hai Đàng, Đàng Trong và Đàng Ngoài đều được các thiền tổ phát huy đúng mức nên đã chính thức định hình cho tông Lâm Tế phát triển lâu dài, rõ ràng nhất tại Việt Nam trãi qua mấy trăm năm nay.
A. Lâm Tế Đàng Ngoài
Thiền sư Viên Văn Chuyết Chuyết (đời 72 Thiền Ấn - Hoa), đời 34 Thiền Lâm Tế Việt Nam. Minh Hành đời 73 Thiền Ấn - Hoa (đời Thiền Lâm Tế Việt Nam 35).
Thiền sư Viên Văn Chuyết Chuyết tên đời là Lý Thiên Tộ, sinh năm 1590 tại Tiệm Sơn, quận Thanh Sơn, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Lớn lên theo học với Trưởng lão Tiệm Sơn, có pháp hiệu là Hải Trừng. Về sau tham yết Hòa thượng Tăng Nguyên Đà Đà ở Nam Sơn, được Tổ truyền tâm ấn. Tổ nói:
- Ngày sau, Ta sẽ nhường chỗ cho người này. Y sẽ bước khỏi đầu sào trăm trượng.
Sau khi đắc pháp, Ngài đi hoằng hóa khắp nơi tại miền Nam Trung Quốc.
Năm 1633 thiền sư đã cùng một số đệ tử trong đó có thiền sư Minh Hành Tại Tại đến kinh thành Thăng Long, thầy trò ở lại Chùa Khán Sơn, Hà Nội và bắt đầu giảng dạy Phật Pháp. Trước khi đến kinh thành Thăng Long, Thiền Sư Chuyết Chuyết (1*) và Minh Hành Tại Tại đã từ Cao Miên đi qua Chiêm Thành rồi sang Đại Việt. Trước khi ra đàng ngoài đã đi qua Đàng Trong, và có thể thầy trò đã dừng chân hoằng hóa tại Bình Định (lúc bấy giờ Bình Định đã thuộc về lãnh thổ Đại Việt) và Thuận Hóa, và đã ghi dấu chân các Ngài ở những nơi đó.
Ta biết rằng Thiền Sư Chuyết Chuyết và Minh Hành Tại Tại trước khi đến Kinh thành Thăng Long cũng đã từng dừng chân hoằng hóa tại Nghệ An, hành đạo tại chùa Thiên Tượng và ở tại Thanh Hóa khai sáng Chùa Trạch Lâm. Với uy tín đó, nên khi bắt đầu giảng pháp tại Chùa Khán Sơn, người đến học gồm cả hai giới người Hoa và Việt rất đông. Sau một thời gian thiền sư đến hành đạo lâu dài tại chùa Vạn Phúc (Phật Tích), Bắc Ninh; cách kinh thành khoảng 30 cây số. Trong thời gian giáo hóa ở đây Thiền Sư được chúa Trịnh Tráng rất quý mến, và xem như bậc thầy. Vua Lê Thần Tông và các bậc công hầu cũng đều rất kính trọng. Trong số đệ tử quy có cả nhà Vua, chúa Trịnh Tráng, hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc và công chúa Lê Thị Ngọc Duyên… Năm 1643, sau khi hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc (vợ vua Lê Thần Tông) pháp danh Diệu Viên, hiệu Pháp Tánh tu bổ chùa Ninh Phúc (Bút Tháp), Bắc Ninh xong, cung thỉnh Tổ Chuyết Chuyết sang trụ trì, còn Minh Hành Tại Tại trụ trì chùa Vạn Phúc (Phật Tích). Vào ngày rằm tháng bảy năm Giáp Thân (1644) thiền sư Chuyết Chuyết viên tịch, thọ 55 tuổi. Thiền Sư Minh Hành xây tháp Bảo Nghiêm thờ tại chùa Vạn Phúc (Phật Tích), và xây tháp thờ vọng tại chùa Ninh Phúc (Bút Tháp). Tổ để lại nhục thân không rã, còn tôn trí đến ngày nay. Sau khi viên tịch, Tổ được vua Lê Trang Tông ban thụy hiệu “Minh Việt Phổ Giác Quảng Tế Đại đức Thiền sư”. 
Sau khi Tổ Chuyết Chuyết viên tịch, thiền sư Minh Hành Tại Tại đời 73 Thiền tổ Ấn – Hoa, đời 35 Thiền Lâm Tế Việt Nam), Phái Lâm Tế Đàng Ngoài trụ trì chùa Ninh Phúc (Bút Tháp), Ni sư Pháp Tánh - Diệu Viên trụ trì chùa Vạn Phúc (Phật Tích). Thin Sư Minh Hành Tại Tại cho ra bài kệ truyền pháp Lâm Tế Đàng Ngoài (Bắc Việt) như sau:
- Minh Chân Như Bảo Hải
Kim Tường Phổ Chiếu Thông
Chí Đạo Thành Chánh Quả
Giác Ngộ Chứng Chơn Không.
Nghĩa là:
- Thấy chân như biển rộng
Ánh vàng chiếu vô cùng
Đạt đạo thành chánh quả
Giác ngộ chứng chân không.
Khi thiền sư Minh Hành Tại Tại viên tịch năm 1659, thọ 64 tuổi, thì Ni sư Diệu Viên thay thế trụ trì chùa Ninh Phúc, trong khi đó công chúa Lê Thị Ngọc Duyên xuất gia pháp danh Diệu Tuệ trụ trì chùa Vạn Phúc (Phật Tích). Cho đến thời Tây Sơn - Pháp thuộc, chùa bị phá hủy chỉ còn lại di tích Bảo tháp có toàn thân Tổ Viên Văn Chuyết Công và tượng Phật Di-đà do vua Lý Thánh Tông tạc năm 1057.
Song song với sự truyền đạo của Tổ Minh Hành Tại Tại, tại đạo tràng của tổ thứ 3 phái Lâm Tế Đàng Ngoài là chùa Liên Tôn (Liên Phái Hà Nội), do thiền sư Như Trừng Lân Giác (tên đời là Trịnh Thập) sáng lập. Thiền sư Như Trừng Lân Giác là đệ tử của tổ Minh Lương, chùa Vĩnh Phúc, nhưng cầu pháp xuất gia với Thiền sư Chân Nguyên Chánh Giác (chùa Lân, Long Động, Yên Tử, Quảng Ninh) nên được thiền sư Chân Nguyên ban pháp danh Như Trừng Lân Giác, hoằng hóa tông Lâm Tế một thời gian dài, có sự kế thừa rõ nét từ: thiền sư Minh Lương (đời 73), đời 35 Lâm Tế Việt Nam; Chân Nguyên Chánh Giác (đời 74) đời 36 Tông Lâm Tế Việt Nam, Như Trừng Lân Giác, Như Hiện - Nguyệt Quang), Thuần Giác (đời 75 cùng đời); đời 37 Tông Lâm Tế Việt Nam, Đỗ Đa Lưỡng Quốc, Tánh Tĩnh (cùng đời 76), đời 38 Tông Lâm Tế Việt Nam; Từ Phong Hải Quýnh (đời 77), đời 39 Tông Lâm Tế Việt Nam; Kim Liên Tịch Truyền (đời 78), đời 40 Tông Lâm Tế Việt Nam, Tường Quang Chiếu Khoan (đời 79), đời 41 Tông Lâm Tế Việt Nam, Phổ Tánh (đời 80), đời 42 Tông Lâm Tế Việt Nam, Sơn Tây (đời 81), đời 43 Tông Lâm Tế Việt Nam, xuất gia với Tổ Từ Tánh chùa Thiên Quang núi Đại Hùng (Hà Tây - Hà Nội), về sau trụ trì chùa Từ Ân Bổn Xả, pháp danh Tánh Kim. Đến đây, phái Lâm Tế Đàng Ngoài từ từ hòa nhập với tông Tào Động Việt Nam.
B. Lâm Tế Đàng Trong
Trong thâm ý của Chúa Nguyễn, đạo Phật có thể làm nơi nương tựa tinh thần cho công trình lập quốc của dòng họ Nguyễn sau nầy, cho nên ngay sau khi Doãn Quốc Công Nguyễn Hoàng (1558-1613) vào trấn thủ đất Thuận Hóa ông đã để ý đến việc lập chùa (2*). Năm 1601, ông đã bắt đầu xây dựng chùa Thiên Mụ ở xã Hà Khê, huyện Hương Trà. Năm sau vào ngày Vu Lan, Chúa đến chùa Thiên Mụ lập trai đàn làm lễ bố thí. Chúa lại cho dựng chùa Sùng Hóa trên nền một ngôi chùa cổ ở xã Triêm Ân huyện Phú Vang. Năm 1609, Chúa lại lập chùa Kinh Thiên ở Thuận Trạch, Quảng Bình. Sau khi Chúa dựng xong dinh Quảng Nam ở xã Cần Húc, Chúa lại cho lập một ngôi chùa gần đó gọi là Chùa Long Hưng, ở về mé đông của trấn. Đó là lý do sau nầy các Chúa Nguyễn đều tỏ vẻ sùng thượng đạo Phật, và nhân dân Đàng Trong cũng nghênh đón các vị du tăng Trung Hoa với một tấm lòng chân thật, mặn nồng. Trong thời đại chuyển tiếp giữa hai triều Minh - Thanh, nhiều cao tăng Trung Hoa đã tới Đàng Trong hoằng pháp, trong thế kỷ thứ 17 ghi nhận sự có mặt của các thiền sư Trung Hoa sau đây:
- Các thiên sư Viên Cảnh và Viên Khoan ở Quảng Trị
- Thiền Minh Hoàng khai sơn chùa Ấn Tôn, Thuận Hóa
- Thiền sư Giác Phong khai sơn chùa Thiên Thọ, Thuận Hóa
- Thiền sư Từ Lâm khai sơn chùa Từ Lâm, Thuận Hóa
- Thiền sư Nguyên Thiều khai sơn chùa Thập Tháp Di Đà, Bình Định  và các chùa Quốc Ân và Hà Trung, Thuận Hóa.
- Thiền sư Minh Hải - Đắc Trí - Pháp Bảo khai sơn chùa Chúc Thánh, Quảng Nam
- Thiền sư Tế Viên, khai sơn chùa Hội Tông, Phú Yên
- Thiền sư Pháp Hóa khai sơn chùa Thiên Ấn, Quảng Ngãi, và nhiều vị thiền sư khác nữa.
Hai trong những vị thiền sư đã từng đặt chân đến phần đất Đàng Trong để truyền đạo, và sau nầy lập nên dòng Thiền Lâm Tế Chúc Thánh được chư tăng và tín đồ biết nhiều đó là hai vị Thiền Sư Minh Hải - Đắc Trí – Pháp Bảo và Nguyên Thiều - Hoán Bích.
Tổ họ Tạ pháp danh Nguyên Thiều, hiệu Hoán Bích, ngài còn có pháp danh khác là Siêu Bạch hiệu Thọ Tông sinh năm Mậu Tý (1648), người huyện Trình Hưng, phủ Triều Châu, tỉnh Quảng Đông. Năm 19 tuổi Ngài Xuất gia tại chùa Báo Tư, tu học dưới sự hướng dẫn của thiền sư Khoáng Viên - Bổn Quả. Ngài theo thuyền buôn sang Đại Việt trong đời chúa Nguyễn Phúc Tần, và ngài cũng là người nối pháp đời thứ 33 Tông Lâm Tế Chánh Tông. Ban đầu khi mới đến Đại Việt, Ngài cư trú tại phủ Quy Ninh (Bình Định bây giờ). Vào năm 1678, lúc đó ngài vừa tròn 30 tuổi, Ngài cho xây dựng chùa Thập Tháp Di Đà, công trình đến năm 1683 hoàn thành. Chùa nầy tọa lạc ở làng Thuận Chánh, huyện Tuy Viễn, vì sau chùa có mười ngôi cổ tháp Chàm, cho nên chùa được gọi là Chùa Thập Tháp. Tổ cử hành lễ khánh thành, được vua Lê Hy Tông ban bảng vàng: Sắc Tứ Thập Tháp Di Đà Tự”.
Sau đó thiền sư Nguyên Thiều – Hoán Bích ( Siêu Bạch - Thọ Tông) ra Thuận Hóa dựng chùa Quốc Ân và xây tháp Phổ Đồng. Chùa Quốc Ân tọa lạc tại ấp Phước Quả. Chùa cũng được chúa Nguyễn Phúc Chu ban cho liễn đối có ghi đạo hiệu của chúa là Thiên Túng Đạo Nhân.
Sở dĩ tổ có hai tên là Nguyên Thiều - Hoán Bích và Siêu Bạch - Thọ Tông (3*) là vì thiền tôn truyền đến đời thiền sư Nghĩa Huyền, ngài lập ra nhánh gọi là Lâm Tế và Ngài là sơ tổ của dòng Lâm Tế. Dòng Lâm Tế truyền đến đời 21 là Vạn Phong Thời Ủy chùa Thiên Đồng (Trung Hoa) xuất ra bài kệ: Tổ, Đạo, Giới …. truyền đến đời 31 là ngài Đạo Mân lại xuất ra một dòng kệ khác: Đạo, Bổn, Nguyên, Thành ….
Xét về Nguyên Thiều – Hoán Bích là thuộc về dòng kệ của Ngài Đạo Mân, tức là sư tổ của Ngài mới lập ra hai đời; Còn Siêu Bạch - Thọ Tông là thuộc về dòng kệ của Ngài Vạn Phong - Thời Ủy, tức là tổ mười hai đời của Ngài truyền xuống. Do đó người ta bảo ngài đã thọ giáo cả hai bên. Bên dòng kệ của ngài Vạn Phong - Thời Ủy thì ngài được hiệu là Siêu Bạch - Thọ Tông; bên dòng kệ của ngài Đạo Mân thì ngài được hiệu là Nguyên Thiều – Hoán Bích. Vì là thọ giáo cả hai bên, nên một bên ngài truyền xuống dòng kệ chữ Siêu của tổ Vạn Phong, một bên ngài muốn truyền xuống dòng kệ chữ Nguyên của tổ sư mình, cho nên trong quá trình truyền thừa, ý Tổ Nguyền Thiều muốn giữ cả hai dòng kệ, vì cùng chung một môn phái Lâm Tế Nghĩa Huyền, cùng một chốn Tổ là Thiên Đồng, Thiên Khai, Báo Tư, nên khi truyền pháp, Ngài dùng hai chữ: Bên chữ Nguyên cho đến Thành, Phật, Tổ, Tiên… hay bên chữ Siêu cho đến Minh, Thiệt, Tế v.v… tùy theo nhân duyên phú pháp.
Sau một thời gian hành đạo tại chùa Thập Tháp Di Đà, Tổ vân du hóa đạo các tỉnh cực Bắc (Thuận Hóa), trùng tu chùa Hà Thành (chùa Hà Trung) cửa biển Tư Dung nay là Tư Hiền, huyện Phú Lộc, Thừa Thiên Huế. Sau đó, Tổ trùng tu chùa Vĩnh Ân, đổi tên thành chùa Quốc Ân (TP.Huế). Năm 1690, Tổ vâng lịnh chúa Nguyễn Phúc Trăn về Trung Quốc thỉnh một số chư Tăng sang hành đạo tại Đàng Trong và một số pháp khí để tôn thờ tại chùa Thiên Mụ, Hà Trung, Quốc Ân v.v… Đến năm 1694, thời chúa Nguyễn Phúc Chu, Tổ cùng đệ tử vân du hành đạo tại miền Nam, trước tiên lưu trú tại chùa Đại Giác, Cù lao Phố, Đồng Nai.
Có thể nói trong quá trình di dân, mở mang bờ cõi phương Nam của chúa Nguyễn đã có nhiều lưu dân Thuận Quảng vào cư trú tại đây, mốc thời gian cụ thể là năm 1611. Và trong đó không loại trừ các thiền sư phái Trúc Lâm gốc Lâm Tế vào hóa đạo và xây dựng chùa chiền, như Thiền sư Viên Cảnh Lục Hồ, Đại Thâm Viên Khoan, Viên Văn Chuyết Chuyết, Minh Hành Tại Tại v.v… vào những năm 1630-1640. Như vậy, chùa Đại Giác, Bửu Phong đã in dấu chân hoằng hóa của các thiền sư này, trước khi Tổ Nguyên Thiều đến lưu ngụ và hành đạo tại phương Nam (1694). Sang năm 1695, Tổ Nguyên Thiều xây dựng chùa Kim Cang - Bình Thảo, Biên Hòa, Đồng Nai và hóa độ rất nhiều đệ tử nổi danh, làm xán lạn Phật Giáo Đàng Trong cũng như Đồng Nai - Gia Định (Nam Kỳ lục tỉnh). Vì lúc đó, Gia Định thành là gồm cả vùng đất miền Đông và miền Tây (Dinh Trấn Biên - Biên Hòa, Dinh Phiên Trấn - Gia Định, Chợ Lớn, Dinh Trường Đồn - Long An, Mỹ Tho; Dinh Long Hồ - Vĩnh Long, An Giang và trấn Hà Tiên).
Như trên đã nói, Tổ Nguyên Thiều sử dụng hai bài kệ cùng dòng phái là Tổ Đạo Giới Định Tông và Đạo Bổn Nguyên… Do đó, khi truyền thừa pháp phái Lâm Tế thì có hai dòng chữ: Từ chữ Nguyên cho đến chữ Thành, Phật, Tổ, Tiên; từ chữ Siêu cho đến chữ Minh, Thật, Tế… Rồi từ đó các Hòa thượng mang chữ Minh hay chữ Thành cũng theo gương Tổ Nguyên Thiều truyền cho đệ tử cũng theo dòng kệ của Tổ Định Tuyết Phong (Tổ Đạo Giới…) hoặc Đạo Mân Mộc Trần (Đạo Bổn Nguyên…), nhưng dù chữ nào, cũng là một dòng Lâm Tế, là đệ tử Phật, đệ tử cùng Tổ với nhau, cùng một Tổ đình Thiên Đồng, Thiên Khai, Báo Tư - Trung Quốc, hay Thập Tháp Di Đà - Bình Định, Quốc Ân, Thiền Tôn - Huế, Kim Cang, Đại Giác - Đồng Nai, Từ Ân, Giác Lâm - Gia Định, Sài Gòn, Tây An, Phi Lai - Châu Đốc, An Giang v.v…
Sau hơn 80 năm hành đạo, Phật sự đã xong, công viên quả mãn, ngày 19/10 Mậu Thân, niên hiệu Bảo Thái thứ 9 (20/11/1728) ngài an nhiên thị tịch, thọ 81 tuổi. Các hàng đệ tử, môn đồ xây tháp Tổ thờ tại chùa Quốc Ân và Phổ Thành - Hà Trung - Phổ Đồng Thuận Hóa (Huế) và chùa Kim Cang - Đồng Nai.
Sang năm Kỷ Dậu, hiệu Bảo Thái thứ 10 (1729), mùa Phật đản mồng 8 tháng 4 chúa Nguyễn Phúc Trú (1725-1738) ban tặng thụy hiệu: “Thiền sư Hạnh Đoan”, Sắc tứ Hà Trung tự Hoán Bích bi ký và bài minh khắc vào bia tháp phụng thờ.
C. Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh Ra Đời
Có thể nói, thiền sư Nguyền Thiều - Hoán Bích ( Siêu Bạch - Thọ Tông) là vị tổ sư truyền phái Lâm Tế vào Trung Việt đầu tiên, thiền sư có những đệ tử xuất gia và cầu pháp như các ngài: Minh Vật - Nhất Trí, Minh Lượng Thành Đẳng, Minh Dung – Pháp Thông, Minh Hải – Pháp Bảo đều là những đệ tử ưu tú thời bấy giờ. Trong số các đệ tử của ngài, thiền sư Minh Hải - Pháp Bảo lập chùa Chúc Thánh tại Hội An, Quảng Nam và xuất kệ truyền thừa lập tôn môn phái Lâm Tế Chúc Thánh.
Như ta đã biết, trước khi thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh ra đời, tại Quảng Nam đã có nhiều vị thiền sư danh tiếng giáo hóa như: Minh Châu Hương Hải, Thạch Liêm, Hưng Liên - Quả Hoằng … Với sự hoằng hóa của các thiền sư nầy đã làm cho người dân đất Quảng thấm nhuần Phật Pháp. Nhưng do vì các ngài tùy duyền giáo hóa, chợt đến chợt đi khiến cho người con Phật nơi đây không có nơi nương tựa lâu dài. Chính vì lẽ đó, khi thiền sư Minh Hải - Pháp Bảo quyết định trụ lại Quảng Nam hoằng hóa đã đáp ứng được niềm khao khát mong đợi của người con Phật nói riêng và toàn dân nói chung từ bấy lâu nay. Như vậy, nếu như các ngài Minh Châu, Thạch Liêm, Hưng Liên có công xây dựng nền móng của ngôi nhà phật Pháp, thì ngài Minh Hải – Đắc Trí - Pháp Bảo là người có công kiến tạo tòa nhà Phật Giáo Quảng Nam mà qua đó được tiêu biểu là dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
D. Về Thiền Sư Minh Hải - Đắc Trí - Pháp Bảo
Thiền sư Minh Hải – Đắc Trí - Pháp Bảo (1670 – 1746) thế danh là Lương Thế Ân, sinh vào giờ Tuất, ngày 28 tháng 6 năm Canh Tuất (1670) nhăm năm Khang Hy thứ 8 triều nhà Thanh tại làng Thiệu An, huyện Đồng An, phủ Tuyên Châu, tỉnh Phước Kiến, Trung Hoa. Thân phụ là Lương Đôn Hậu, thân mẫu là Trần Thục Thận, anh trai là Lương Thế Bảo, em trai là Lương Thế Định. Ngài là con thứ hai trong gia đình.
            Thuở thiếu thời, ngài đã tỏ ra thông minh khác người và có tâm hướng về Đạo Phật. Năm Mậu Ngọ (1678), ngài được song thân đưa đến xuất gia tại chùa Báo Tư (nơi tổ Nguyên Thiều xuất gia, và năm Mậu Ngọ cũng là năm tổ Nguyên Thiều khởi công xây dựng chùa Thập Tháp Di Đà) thuộc tỉnh Quảng Châu, lúc bấy giờ ngài tròn 9 tuổi. Sau thời gian tu học, khi vừa tròn 20 thì ngài được đăng đàn thọ cụ túc giới với pháp danh Minh Hải, tự Đắc Trí, hiệu Pháp Bảo. Như vậy Ngài nối pháp đời 34 dòng Lâm Tế truyền theo bài kệ của ngài Vạn Phong - Thời Ủy.
            Năm Ất Hợi (1695) thể theo lời thỉnh cầu của chúa Nguyễn Phúc Chu, ngài cùng các ngài Minh Vật Nhất Trí, Minh Hoàng - Tử Dung, Minh Lượng - Thành Đẳng … trong Hội Đồng Thập Sư cùng Hoà Thượng Thạch Liêm sang An Nam truyền giới. Phái đoàn xuống thuyền bến Hoàng Phố tại Trung Hoa và cập bến Hội An vào ngày 28 tháng Giêng năm Ất Hợi (1695). Sau đó, đoàn ra Thuận Hóa, được chúa Nguyễn Phúc Chu đón tiếp trọng thể và thỉnh về ngụ tại Chùa Thiền Lâm. Sau ngày đại giới đàn tại Chùa Thiền Lâm, chùa Di Đà, chùa Thiên Mụ, ngài Thạch Liêm và phái đoàn trở về Quảng Đông và không qua nữa.
            Khi ngài Thạch Liêm về nước, có một số vị trong phái đoàn quyết định ở lại An Nam như ngài: Minh Hoàng - Tử Dung khai sơn chùa Ấn Tôn ở Thuận Hóa, ngài Minh Lượng – Thành Đẳng khai sơn chùa Vạn Đức tại Cẩm Hà, Hội An, ngài Minh Hải – Đắc Trí - Pháp Bảo khai sơn chùa Chúc Thánh tại Cẩm Phô, Hội An. 
            Sau khi quyết định trụ lại Hội An để hoàng dương chánh pháp, tổ Minh Lương – Thành Đẳng khai sơn chùa Vạn Đức truyền pháp theo bài kệ của ngài Mộc Trần - Đạo Mân, riêng ngài Minh Hải - Pháp Bảo biệt xuất riêng một bài kệ truyền pháp. Từ đó, trong lịch sử Phật Giáo Việt Nam xuất hiện một dòng phái mới, đó là Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh. Toàn văn bài kệ tất cả có tám câu; bốn câu đầu là pháp danh, bốn câu sau là pháp hiệu. Bài kệ truyền pháp danh có bốn câu, mỗi câu năm chữ như sau:
            - Minh Thiệt Pháp Toàn Chương
            Ấn Chơn Như Thị Đồng
            Chúc Thánh Thọ Thiên Cửu,
            Kỳ Quốc Tộ Địa Trường.
            Và bốn câu truyền pháp tự, mỗi câu năm chữ như sau:
            - Tổ Đạo Giải Hạnh Thông
            Đắc Chánh Luật Vi Tông
            Giác Hoa Bồ Đề Thọ
            Sung Mãn Nhân Trung Thiên.
            Ý nghĩa chung của bốn câu pháp danh và bốn câu pháp tự là:
            - Khai sáng pháp chân thật
            Tánh chân như là đồng
            Cầu thánh quân muôn tuổi
            Chúc đất nước vững bền
            Giới luật nêu trước tiên
            Giải và hành nối liền
            Hoa nở cây giác ngộ
            Hương thơm lừng nhân thiên.
            (Thích Nhất Hạnh dịch)
Ngoài bài kệ truyền pháp tại Quảng Nam trước đây, chư tăng môn phái Chúc Thánh tại Bình Định cũng có một bài kệ truyền pháp như sau:
Truyền Pháp Danh Kệ:
- Minh Thiệt Pháp Toàn Chương
 Ấn Chơn Như Thị Đồng 
Vạn Hữu Duy Nhất Thể 
Quán Liễu Tâm Cảnh Không 
Giới Hương Thành Thánh Quả 
Giác Hải Dõng Liên Hoa 
Tín Tấn Sanh Phước Huệ 
Hạnh Trí Giải Viên Thông 
Ảnh Nguyệt Thanh Trung Thủy 
Vân Phi Nhật Khứ Lai 
Đạt Ngộ Vi Diệu Tánh 
Hoằng Khai Tổ Đạo Trường.
Truyền Pháp Tự Kệ:
- Đắc Chánh Luật Vi Tông 
Tổ Đạo Giải Hạnh Thông 
Giác Hoa Viên Cảnh Trí 
Sung Mãn Lợi Nhân Thiên 
Hằng Sa Chư Pháp Giới 
Tế Độ Đẳng Hàm Sanh 
Châu Viên Thể Tướng Dụng 
Quán Chiếu Sát Trần Trung 
Khứ Lai Đương Nhất Niệm 
Năng Sở Khởi Phi Tha 
Tâm Cảnh Thùy Biên Thủ 
Chơn Vọng Tổng Giai Như.
Nguyên nhân xuất hiện của bài kệ thứ hai này là vì vào năm 1967, có một học tăng gốc người Hoa đến nộp đơn học tại trường trung học Bồ Đề Nguyên Thiều (Bình Định). Qua lý lịch thì được biết học sinh này có quan hệ thân tộc với Tổ Nguyên Thiều. Theo sự yêu cầu của thầy giám học Thích Đổng Quán, gia đình vị học tăng này cung cấp một số tư liệu về gia phả Tổ Nguyên Thiều, trong đó có bài kệ này. Từ đó, chư Tăng dòng Chúc Thánh tại Bình Định sau chữ Đồng thì truyền xuống chữ Vạn chứ không truyền xuống chữ Chúc.
Về sự xuất hiện bài kệ thứ hai nầy, có người thắc mắc:
- Giữa hai bài kệ thì bài nào đích thực là của Tổ Minh Hải?
- Tại sao bài kệ Tổ Minh Hải không không nằm trong gia phả của ngài mà lại nằm trong gia phả của ngài Nguyên Thiều?
            Trước hết, bài kệ nào đích thực là của tổ Minh Hải – Pháp Bảo
Chúng ta thấy nguyên văn bài kệ thứ hai, về pháp danh cũng như pháp tự, có tất cả mười hai câu. Cả pháp danh và pháp tự hai câu đầu đều giống nhau, chỉ khác là cả bên pháp danh và pháp tự đều thêm tám câu.
            - Phần bên pháp danh là diễn tả một quá trình tinh tấn để đến kết quả cho tâm nguyện là: Theo dấu chân chư tổ, tinh tấn tu tập, làm cho đạo pháp miên trường
            - Phần bên pháp tự, trước hết xác định là phải dùng giới luật làm căn bản tu tập, để rồi đạt đến thể tánh viên dung, tới lui tự tại, nhưng cuối cùng tế độ khắp muôn loài, làm cho hương thơm giải thoát lan tỏa khắp mọi nơi.  
           Xét nội dung hai bài kệ truyền pháp thì cũng không có gì sai lệch, tuy là văn tự có thêm tám câu khác biệt, nhưng ý nghĩa không thay đổi. Ở điểm nầy chúng ta có thể nghĩ:
            - Có thể bài kệ nầy đã có từ sớm lúc tổ còn ở bên Trung Hoa, mà nhất là trong lúc còn đang tu tập với tổ Nguyên Thiều cho nên toàn văn đều nói lên quá trình tu tập. Nhưng đến khi sang An Nam, khai sơn chùa Chúc Thánh, giữa một xã hội mới, lạ, trong hoàn cảnh nhiểu nhương cho nên tổ giản lược lại với ý muốn nói:
            - Đừng thay vua đổi chúa nữa,
Cầu thánh quân muôn tuổi
            Chúc đất nước vững bền
            Giới luật nêu trước tiên
            Giải và hành nối liền
            Hoa nở cây giác ngộ
            Hương thơm lừng nhân thiên.
Cho nên chúng ta nghĩ là bài kệ nầy vẫn là của Tổ Minh Hải, nghĩa là cùng một con người, nhưng ở hai địa phương khác nhau thì sự suy tư, hạnh nguyện tu tập phải có sự thay đổi, nhưng căn bản thì không thay đổi.
            Còn nói về thắc mắc, bài kệ nầy tại sao không nằm trong gia phả của tổ mà lại nằm ở trong gia phả tổ Nguyên Thiều?
            Để cho rõ vấn đề nầy, xin được nhắc lại một chút về năm sanh của tổ Nguyên Thiều – Hoán Bích. Tổ Nguyên Thiều – Hoán Bích sanh năm 1648, xuất gia tại chùa Báo Tư năm 19 tuổi. Sau đó tổ đã theo thuyền buôn sang An Nam (Việt Nam) đời chúa Nguyễn Phúc Tần, đến năm Mậu Ngọ (1678) Ngài khai sơn chùa Thập Tháp Di Đà, lúc đó ngài tròn 30 tuổi.
Tổ Minh Hải - Pháp Bảo sinh vào năm Canh Tuất (1670),  xuất gia năm Mậu Ngọ (1678), lúc đó vừa tròn 9 tuổi, cũng là năm tổ Nguyên Thiều thành lập chùa Thập Tháp Di Đà. Năm 20 tuổi Ngài thọ giới cụ túc với pháp danh Minh Hải, tự Đắc trí, hiệu Pháp Bảo.
Ta biết là năm 1678 là năm tổ Nguyên Thiều khai sáng chùa Thập Tháp Di Đà mà cũng là năm xuất gia của tổ Minh Hải, có lẽ lúc nầy là dịp tổ Nguyên Thiều về Trung Hoa thăm lại chùa xưa và làm lễ xuất gia cho tổ Minh Hải? Cho đến 11 năm sau tổ Minh Hải thọ cụ túc giới lúc vừa tròn 20 tuổi. Có lẽ lúc nầy cũng là dịp tổ Nguyên Thiều về thăm lại chùa và chứng minh giới đàn?
Từ xưa tới nay, nhất là trong truyền thống Phật Giáo, luôn nhắc nhở Thầy, Tổ như là bậc cha mẹ thứ hai, cho nên lúc thọ giới cụ túc, cũng là lúc xuất bài kệ nầy, Tổ Minh Hải đã trình bài kệ nầy lên Thầy của mình là tổ Nguyên Thiều để được ấn chứng. Có lẽ sau khi trình kệ xong, sau đó tổ Nguyên Thiều đã vội vã về lại An Nam để lo phật sự (vì lúc nầy tổ Nguyên Thiều đang xây dựng chùa Thập Tháp Di Đà), cho nên những hành lý của tổ Nguyên Thiều do gia đình cất giữ. Có thể trong mớ hành lý đó có bài kệ trình pháp của tổ Minh Hải - Đắc Trí – Pháp Bảo?
Sự kiện tổ Nguyên Thiều đi đi, về về giữa Việt Nam và Trung Hoa tuy là trong sử không ghi điều nầy, nhưng căn cứ theo yêu cầu của chúa Anh Tôn - Nguyễn Phúc Trăn (1686 – 1691) trở về Trung Hoa mời các danh tăng,  nên tổ Nguyên Thiều đã về lại Trung Hoa để thỉnh thiền sư Thạch Liêm, và phái đoàn chư tăng qua An Nam. Có lẽ các chúa nhà Nguyễn đã biết tổ Nguyên Thiều đã đi qua lại nhiều lần nên các chúa mới tin tưởng và giao cho trách nhiệm cung thỉnh chư tăng. Mãi cho đến năm Ất Hợi (1695) thể theo lời thỉnh cầu của chúa Nguyễn Phúc Chu, tổ Minh Hải cùng các ngài Minh Vật Nhất Trí, Minh Hoàng - Tử Dung, Minh Lượng - Thành Đẳng … trong Hội Đồng Thập Sư cùng Hoà Thượng Thạch Liêm sang An Nam truyền giới, lúc đó thầy trò mới có cơ hội gặp lại tại An Nam. Tại An Nam tổ Nguyên Thiều và tổ Minh Hải còn gặp gở nhau suốt 33 năm trên tuyến đường truyền bá chánh pháp.
Cho đến khi tổ Minh Hải thành lập chùa Chúc Thánh và giản lươc lại bài kệ, như chúng ta đã và đang thấy lưu truyền như hiện nay. Ta có thể nghĩ như vậy mới thấy tánh hợp lý tại sao bài kệ của tổ Minh Hải lại có mặt trong gia phả của tổ Nguyên Thiều, và đồng thời cho ta biết sự liên hệ tình thầy trò từ lúc xuất gia cho khi thành đạt, mặc dù giữa tổ Nguyên Thiều và tổ Minh Hải gặp nhau rất ít, nhưng vẫn thắm thiết tình thầy trò giữa hai tổ Nguyên Thiều và tổ Minh Hải.
            Nếu như suy nghĩ như vậy, thì chúng ta có thể kết lưận, bài kệ mới phát hiện sau nầy là có trước, và bài kệ được truyền thừa theo dòng Lâm Tế Chúc Thánh là có sau, nhưng cả hai đều của tổ Minh Hải – Pháp Bảo.        
Sau gần 50 năm sang An Nam hoằng truyền chánh pháp, đến ngày mồng 7 tháng 11 năm Bính Dần (1746), Ngài gọi đồ chúng đến dặn dò và đọc kệ phú chúc:
- Nguyên phù pháp giới không
Chơn như vô tánh tướng
Nhược liễu ngộ như thử
Chúng sanh dữ Phật đồng
Tạm dịch:
Pháp giới như mây nổi
Chân như không tánh tướng
Nếu hiểu được như vậy
Chúng sanh với Phật đồng
Sau khi phú chúc cho hàng môn đệ xong thì Ngài thâu thần thị tịch, trụ thế 77 tuổi. Đồ chúng cung thỉnh nhục thân của Ngài nhập bảo tháp ở phía Tây Nam trong khuôn viên tổ đình Chúc Thánh.
Từ đây, trong dòng lịch sử truyền thừa của Phật Giáo Việt Nam có một dòng thiền mới xuất hiện mà sử sách gọi là dòng thiền Chúc Thánh, hay còn gọi thiền phái Minh Hải Pháp Bảo. Từ khi Tổ Minh Hải – Pháp Bảo khai sơn, chùa Chúc Thánh đã trải qua 300 năm và 12 đời trụ trì như sau:
01. Đời 34: Ngài Minh Hải-Đắc Trí-Pháp Bảo
02. Đời 35: Ngài Thiệt Diệu-Chánh Hiền.
03. Đời 36: Ngài Pháp Diễn-Bảo Tràng
04. Đời 37: Ngài Toàn Đăng-Bảo Nguyên.
05. Đời 37: Ngài Toàn Nhâm-Vi Ý-Quán Thông.
06. Đời 38: Ngài Chương Đạo-Tuyên Tùng-Quảng Viên.
07. Đời 38: Ngài Chương Khoáng-Tuyên Điền-Chứng Đạo.
08. Đời 39: Ngài Ấn Bính-Tổ Thuận-Phổ Bảo.
09. Đời 40: Ngài Chơn Chứng-Đạo Tâm-Thiện Quả.
10. Đời 40: Ngài Chơn Nhật-Đạo Chiếu-Quang Minh.
11. Đời 41: Ngài Như Truyện-Giải Lệ-Trí Nhãn.
12. Đời 43: Ngài Đồng Mẫn-Thông Niệm-Huệ Tánh.
Từ Chúc Thánh, các đệ tử cũng như các pháp tôn nhiều đời của Ngài đã đem ánh sáng chánh Pháp hoằng truyền khắp mọi nơi. Từ Quảng Nam, ra Thừa Thiên Huế, rồi Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận trở vào phía nam đến các tỉnh miền Nam, miền Tây Nam bộ đều có dấu chân hành hóa của chư Tăng thuộc thiền phái Chúc Thánh. Hiện nay, dòng thiền Chúc Thánh đã truyền xuống đến các chữ Thánh, Thọ và sự ảnh hưởng của dòng thiền này càng ngày càng thêm phát triển và lớn mạnh.
II- Lâm Tế Chúc Thánh Phú Yên & Tổ Đình Pháp Hội, Bình Thuận
Trước hết là nói về Tổ Đình Pháp Hội. Tổ Đình Pháp Hội, Bình Thuận do thiền sư Thị Lạc – Hành Thiện – Hưng Từ khai sơn vào năm 1967. Thiền sư sanh ngày 01 tháng 8 năm Tân Hợi (1911) tại làng Bình Hòa, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Vì thế khi nói về sự phát triển của thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh Phú Yên & Tổ Đình Pháp Hội, Bình Thuận là ta phải tìm hiểu về sự hình thành, truyền thừa của dòng Lâm Tế Chúc Thánh tại Phú Yên.
A. Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh Tại Phú Yên
Tại Phú Yên, người truyền Phật Giáo vào trước tiên là Hòa thượng Tế Viên (4*) thuộc thiền phái Lâm Tế. Ngôi chùa đầu tiên ở Phú Yên được xây dựng vào giữa thế kỷ XVII là chùa Hội Tôn do Hòa thượng Tế Viên khai sáng và trụ trì. [Lịch sử Phú Yên từ thế kỉ XVII đến thế kỷ XVIII, tr 230]. Địa điểm chùa Hội Tôn ngày nay thuộc thôn Hội Tín, xã An Thạch, huyện Tuy An. Sau đó, chùa được dời qua thôn Diêm Điền gọi là chùa Cổ Lâm, thuộc xã An Ninh Tây, cách địa điểm cũ khoảng 300 mét. Trong suốt thế kỷ XVII - XVIII, sau chùa Hội Tôn ở Phú Yên có khoảng 20 ngôi chùa khác được xây dựng như chùa Châu Lâm (nay ở thôn Quảng Đức, xã An Thạch, Tuy An), chùa Long Quang (đường Nguyễn Công Trứ, thành phố Tuy Hòa), .....
Trong số các đệ tử của thiền sư Tế Viên, có sư Liễu Quán quê làng Bạc Mã, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên (nay là xã An Thạch, huyện Tuy An, Phú Yên). Thiền sư Liễu Quán đã khai sơn chùa Bảo Tịnh (nay tọa lạc ở đường Phan Đình Phùng, thành phố Tuy Hòa), có công Việt hóa thiền phái Lâm Tế, sáng lập nên thiền phái Lâm Tế Liễu Quán và làm cho thiền phái này phát triển mạnh mẽ ở Ðàng Trong. Sau khi thiền sư viên tịch, những đệ tử của thiền sư đã khai sơn nhiều ngôi chùa như ngài Tế Dũng lập chùa Bình Quang (phường 4, thành phố Tuy Hòa), ngài Tế Căn lập chùa Hồ Sơn (khu phố Ninh Tịnh 1, phường 9, thành phố Tuy Hòa), ngài Tế Ngạn sáng lập chùa Long Sơn (thôn An Nghiệp, xã Hòa Định, huyện Tuy Hòa), .... [Nguyễn Đình Chúc – Huệ Nguyễn, Lược sử Phất giáo và các chùa Phú Yên, tr 15].
Cũng trong khoảng thế kỷ XVII - XVIII, thiền sư Minh Hải - Đắc Trí - Pháp Bảo (người Trung Quốc) đã sáng lập dòng thiền mới là thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh tại Hội An, Quảng Nam. Người đầu tiên truyền dòng Lâm Tế Chúc Thánh đến Phú Yên là thiền sư Pháp Chuyên - Diệu Nghiêm, đời 36 dòng Lâm Tế Chúc Thánh. Sau một thời gian hoằng pháp tại Phú Yên, thiền sư đã khai sơn chùa Từ Quang (còn gọi là chùa Đá Trắng, ở thôn Cần Lương, xã An Dân, Tuy An) vào năm 1797. Từ Tổ đình Từ Quang, các đệ tử của thiền sư Pháp Chuyên sau đó cũng khai sơn các chùa trong tỉnh như:
- Chùa Khánh Sơn (thôn Phước Hậu, phường 9, thành phố Tuy Hòa);
- Chùa Thượng Tiên Thọ Vân (thôn Thọ Vức, Hòa Kiến, thành phố Tuy Hòa);
- Chùa Viên Quang (thôn Định Phong, xã An Nghiệp, Tuy An) .. v.v..
Như vậy, suốt thế kỷ XVII – XVIII và kéo dài đến hết thế kỷ XIX, Phật giáo ở Phú Yên có sự đan xen nhiều tông phái. Tuy vậy, hầu hết các chùa ở Phú Yên đều theo thiền phái Lâm Tế và phân thành 2 dòng kệ: Lâm Tế Liễu Quán và Lâm Tế Chúc Thánh. Từ đó, dòng Chúc Thánh hưng thịnh tại Phú Yên và liên tục phát triển vào các tỉnh Ninh Thuận, Khánh Hòa, Bình Thuận và lan tỏa đến các tỉnh miền Nam và miền tây nam bộ như hiện nay.
B. Hệ Thống Truyền Thừa Pháp Phái Chúc Thánh Tại Phú Yên & Tổ Đình Pháp Hội, Bình Thuận
Hệ thống truyền thừa pháp phái Lâm Tế Chúc Thánh tại Phú Yên trãi qua 9 đời trên 250 năm.
1. Tổ sư thượng Minh hạ Hải, tự Đắc Trí, hiệu Pháp Bảo (1670- 1746), Lâm tế Chánh Tông đời thứ 34, khai Sơn Chùa Sắc Tứ Chúc Thánh, Quảng Nam. Là sơ tổ khai sáng dòng Lâm Tế Chúc Thánh (5*).
2. Tổ sư thượng Thiệt hạ Dinh, tự Chánh Hiển, hiệu Ân Triêm (1712- 1796), nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 35, khai sơn trụ trì Chùa Sắc Tứ Phước Lâm, Quảng Nam, là đệ nhị tổ dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
Tổ thế danh Lê Hiển, sinh năm Nhâm Thìn (1712) tại xã bến đền, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam(nay là xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, Quảng Nam). Tương truyền, mẹ Ngài một đêm nằm mộng thấy con trâu chọc sừng chui vào bụng, bà bắt đầu mang thai. Từ khi mang thai, bà nhàm chán ăn những thức ăn thịt cá, chỉ dùng toàn chay tịnh, sau đó sinh ra Ngài. Từ khi lọt lòng mẹ Ngài chỉ ăn chay. Mẹ có cho ăn mặn thì Ngài từ chối. Biết con có duyên với cửa thiền nên khi vừa tròn 10 tuổi, cha mẹ đã đưa Ngài đến chùa Chúc Thánh thọ giáo với tổ Minh Hải – Đắc Trí - Pháp Bảo. Đến năm 20 tuổi, Ngài đươc tổ Minh Hải cho tho giới cụ túc với pháp danh Thiệt Dinh, tự Chánh Hiền, hiệu Ân Triêm, nối pháp đời 35 dòng Lâm Tế Chánh Tông, thế hệ thứ 2 pháp phái Chúc Thánh.
Với sự ấn chứng của Bổn sư, cũng như sự nổ lực tự thân, không bao lâu hương thơm giới hạnh của Ngài lan tỏa khắp nơi và đồ chúng theo về tu học càng ngày càng đông.
Ngài viên tịch vào ngày 24 tháng 4 năm Bính Thìn (1796), thọ 85 tuổi. Đồ chúng xây Bảo tháp tại phía tây nam chùa Phước Lâm để phụng thờ linh cốt của Ngài.
Hơn 70 năm tu hành và hoằng dương chánh pháp, Ngài đã kế thừa nghiệp tổ, thắp sáng ngọn đèn chánh pháp, làm cho Phật Giáo Quảng Nam ngày một hưng thịnh. Ngài đã đào tạo một thế hệ thừa kế như các Ngài Pháp Ấn - Tường Quang - Quảng Độ (trú trì chùa Phước Lâm, Hội An và Viên Tôn tại Bình Sơn, Quảng Ngài), Pháp Chuyên - Luật Truyền - Diệu Nghiêm (khai sơn chùa Từ Quang, Phú Yên) ….    
3. Tổ sư Pháp Chuyên - Luật Truyền - Diệu Nghiêm (1726 – 1798), nối truyền pháp phái Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 36, thế hệ thứ 3 dòng Lâm Tế Chúc Thánh. 
Thiền sư Diệu Nghiêm sinh quán thôn Cổ Tháp, xã Hoa Châu, phủ Thăng Hoa nay là Thăng Bình tỉnh Quảng Nam. Tổ tông thiền sư người Nghệ An, phủ Thừa Tuyên cha Trần Văn Hiếu, mẹ họ Nguyễn.
Thiền sư sinh vào giờ thìn ngày mồng 2 tháng 4, năm Bính Ngọ (1726). Lên 9 tuổi thiền sư học chữ Nho. Bẩm tính thông minh xuất chúng, ba ông thầy dạy đều khen thiền sư học giỏi. Năm 15 tuổi lên kinh đô học và năm 18 tuổi (Ất Hợi - 1755) thiền sư đậu tú tài. Do một nhân duyên thù thắng, tổ giác ngộ về cuộc đời vô thường, nên Tổ đến chùa Phước Lâm, huyện Diên Phước (nay là thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam xin xuất gia và được tổ Thiệt Dinh – Chánh Hiển - Ân Triêm nhận làm đệ tử. Hành điệu một thời gian, ngày 19 tháng 2 năm Ất Sửu (1745), nhân ngày khánh đản đức Quán Thế Âm Bồ Tát, tổ thỉnh cầu tổ Ân Triêm thế phát xuất gia và được ban cho pháp danh là Pháp Chuyên, tự Luật Truyền, nối pháp đời 36 Lâm Tế Chánh Tông, thế hệ thứ 3 dòng Lâm Tế Chúc Thánh. Đến tháng 3, ngài đến chùa Bảo Lâm thọ cụ túc giới với thiền sư Hải Điện. Từ đó, ngài tinh cần tu học nên bổn sư hài lòng phú pháp hiệu là Diệu Nghiêm.
Trên phương diện hành trì, thiền sư siêng năng tụng chú Đại bi, và hành trì Kinh Hoa Nghiêm, xem kinh thơ, đọc giải thuyết Tam Tạng... t giữ chức Tri Tạng tại bổn tự 5 năm. ... Sau đó thiền sư nhận lời mời ông Tang Chánh Niệm đến Tuy La Lâm giảng thuyết Kinh Địa Tạng Quy Nguyên, ở đây 3 tuần lễ thiền sư giáo hóa số người qui kính Tam Bảo hơn 100 người.
Thiền sư cùng với thiền sư Bảo Viên - Thần Thông khắc bản công cứ đại trường kinh Di Đà và 10 tập Liên Hoa Thăng Duyên giáo hóa qui tịnh độ, kết thiện duyên qui tịnh độ hơn 30 người. Khi vào Qui Nhơn, thiền sư đến chùa Linh Phong xứ Dũng Tuyền, cất riêng am để tả kinh Pháp Hoa, bằng chữ vàng một bộ, kinh Kim cang Hồng Danh mỗi thứ một quyển, lấy máu tả một bộ Kinh Pháp Hoa, lấy mực viết một tiểu bổn cộng tất cả là 10 bộ, Tam thiên kinh 5 bộ. Cứ như thế hằng đêm Tổ Sư tọa thiền tụng kinh Pháp Hoa, ban ngày thì Tổ Sư tả kinh Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Kim Cang.
Năm Mậu Thân thiền sư vào Phú Yên ngụ chùa Trùng Quang huyện Sông Cầu với thiền sư Khánh Thông đại sư. Thời gian chưa bao lâu thiền sư Khánh Thông tịch, thiền sư đến chùa Bảo Sơn Thiên Hải nay thuộc xã An Ninh Đông huyện Tuy An thuyết Long Thư Tịnh Độ một tuần lễ rồi trở về ở chùa Trùng Quang 2 năm...
Tháng Giêng năm Tân Hợi (1791), Hòa Thượng Bình An mời thiền sư đến chân núi Một, thuyết kinh Địa Tạng 5 ngày (địa phận thôn Hà Yến xã An Thạch huyện Tuy An). Sau đó đến am Khánh Sơn (phía nam núi Chóp Chài) ngụ tại đây.
Năm 1792 thiền sư về lại chùa Bảo Sơn Thiên Hải. Qua năm sau tức là năm 1793 thiền sư được mời đến xứ Đồng Nai (gần chợ Đèo) thuyết kinh Bát Nhã. Thuyết kinh xong thiền sư trở về lại Phú Yên, trong dịp dạo đến xã Xuân Đài núi Bạch Thạch thấy nơi này nước chảy quanh phía trước, có núi bao bọc phía sau, đất bằng rộng rãi, bèn dựng thảo am ở đấy để dịch kinh Hoa Nghiêm. Đến tháng 2 nhuận năm Ất Mão (1795) thiền sư mời thập phương tăng đến thuyết kinh Địa Tạng 7 ngày. Ngày 21 tháng 7 Bính Thìn 1796, đệ tử am Khánh Sơn thỉnh thiền sư đến khai đàn thuyết giới và mời thiền sư Hoa Nghiêm, Quang Huy, Đức Lâm, Thiên  Mãn, Đại Chúng đến khai đàn. Tăng ni thọ giới 200 người và thuyết Địa Tạng kinh 10 ngày.
Đến năm Đinh Tỵ (1797) thiền sư kiến lập chùa Từ Quang trên núi Bạch Thạch (Đá Trắng), thuộc thôn Cần Lương, xã An Dân, huyện Tuy An.
Có thể nói, khắp các tỉnh Đàng Trong từ Thừa Thiên vào đến Phú Yên rồi tận Đồng Nai, nơi nào cũng có dấu chân của hoằng hóa của Ngài đặt chân đến và cũng đều thấm nhuần pháp vị. Và cũng từ đó dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh mới thực sự bén rễ và phát triển mạnh tại tỉnh Phú Yên.
Khi biết cơ duyên của mình ở chốn Ta Bà đã trọn, Ngài nhóm họp đồ chúng và đọc kệ phú pháp rằng:
            - Lai nhi vị tăng lai
Khứ nhi vị tằng khứ
Khứ lai bổn như như
Như như hoàn lại khứ
Dịch nghĩa:
- Đến mà chưa từng đến
Đi mà chưa từng đi
Đi đến vốn như vậy
Như vầy lại đến đi.
Ngài an nhiên thị tịch vào ngày 17 tháng 6 năm Mậu Ngọ (1798), trụ thế 73 năm, trải qua 53 năm tu học và hoằng hóa. Sau khi thiền sư viên tịch, đệ tử trưởng tử của Ngài là thiền sư Toàn Thể - Vi Lương – Linh Nguyên thừa kế nối truyền pháp phái.
4. Tổ Toàn Thể - Vi Lương – Linh Nguyên (1765 – 1844), nối truyền pháp phái Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 37, thế hệ thứ 4 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
Thiền sư tộc tánh họ Nguyễn, sinh tháng 5 năm Ất Dậu (1765) tại tỉnh Phú Yên. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Quang Thác, pháp danh Quảng Tích và thân mẫu là cụ bà Lê Thị Thêm, pháp danh Toàn Mãn.
Ngài xuất gia với tổ Pháp Chuyên - Luật Truyền - Diệu Nghiêm nên được bổn sư ban cho pháp danh Toàn Thể, tự Vi Lương, hiệu Linh Nguyên, nối pháp đời 37 Lâm Tế Chánh Tông, thế hệ thứ 4 pháp phái Lâm Tế Chúc Thánh. Trong hàng đệ tử đắc pháp, Ngài là người xuất sắc nhất nên được tổ Pháp Chuyên - Luật Truyền - Diệu Nghiêm chọn làm trưởng pháp tử.
Năm Mậu Ngọ (1798), tổ Diệu Nghiêm viên tịch, Ngài được tông môn cung cử làm trú trì chùa Từ Quang, tiếp tục phát huy sự nghiệp bổn sư để lại. Ngài có công biên lại sự tích của tổ Pháp Chuyên - Luật Truyền - Diệu Nghiêm thiền sư nhân do sự tích chí.
Năm Canh Ngọ (1810), thể theo lời yêu cầu của bổn đạo, Ngài ra Bình Định khai sơn chùa Long Tường tại thôn Lương Quang, xã Phước Quang, huyện Tuy Phước. Từ đây cuộc đời hành đạo của Ngài chia hai, lúc ở Phú Yên, khi ra Bình Định. Tại chùa Long Tường, thiền sư có hai đệ tử thừa kế là Chương Hương - Chí Thăng và Chương Tân - Tông Chí - Chánh Nhân. Ngài là người kiến văn quảng bác, tinh thông Phật lý nên tất cả các kinh sách của tổ Diệu Nghiêm đều được Ngài khắc bản lưu truyền, cũng như hướng dẫn cho các thiền sư khác khắc kinh. Từ đó phong trào học Phật phát triển mạnh toàn tỉnh Phú Yên và có ảnh hưởng rất lớn đến các tỉnh lân cận, nên thu hút chư tăng các nơi về tu học rất đông. Từ đó, chùa Từ Quang trở thành trung tâm đào tạo tăng tài cho tỉnh Phú Yên nói riêng và các tỉnh miền Trung nói chung từ thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX.
Vào giờ mùi ngày mồng 3 tháng 3 năm Giáp Thìn (1844), thiền sư Toàn Thể - Vi Lương – Linh Nguyên viên tịch, hưởng thọ 80 tuổi. Bảo tháp Ngài được môn đồ kiến lập tại chùa Từ Quang trên núi Bạch Thạch. Sau khi thiền sư viên tịch, đệ tử của Ngài là Chương Niệm – Tông Trực - Quảng Giác thừa kế nối truyền pháp phái.
5. Tổ Sư Chương Niệm - Tông Trực - Quảng Giác (1808 – 1875), nối truyền pháp phái Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 38, thế hệ thứ 5 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
Tổ trụ trì chùa Từ Quang năm 1844 cho đến ngày viện tịch, khai sáng chùa Thiên Trường, và chỉ có một môn đệ duy nhất đó là thiền sư Huệ Viễn được thừa kế trú trì, nối truyền pháp phái.
6. Tổ Sư Ấn Từ - Tổ Đức - Huệ Viễn, nối truyền pháp phái Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 39, thế hệ thứ 6 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
Tổ sư thượng Ấn hạ Từ tự Tổ Đức hiệu Huệ Viễn nối truyền pháp Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 39, thừa kế trú trì chùa Từ Quang - Đá Trắng, Phú Yên.
Cuộc đời và sự hành đạo của tổ chưa bao lâu thì ngài viên tịch sớm. Từ khi tổ Ấn Từ - Tổ Đức - Huệ Viễn viên tịch, chùa không có người thừa kế nên trong tông môn đã cung thỉnh tổ Ấn Thiên - Tổ Hòa - Huệ Nhãn (1850 – 1888) là tổ thứ 3 của chùa Phước Sơn xã Xuân Sơn - Đồng Xuân từ năm 1874 cho đến ngày viên tịch, đồng thời kiêm nhiệm trú trì làm tổ thứ 5 của chùa Từ Quang. Trong thời gian kiêm nhiệm chùa Từ Quang, thiền sư vận động mở con đường vào chùa chiều ngang 3m50, chiều dài độ 500m. Từ cổng chùa đến Quốc Lộ I, đường dốc có độ chênh cao, lát đá tảng thu nhặt từ các vùng quanh chùa. Đó là công trình đòi hỏi đóng góp lớn lao, biểu hiện đức độ của bậc danh tăng mới thực hiện được.
Ngoài việc mở đường nói trên, thời gian này, thiền sư còn đào tạo được danh tăng có tiếng tăm. Danh tăng đó là hoàng tử dòng Tuy Lý Vương, nhân vào Phú Yên tỵ nạn tại làng An Thổ, cách chùa Từ Quang không quá 3km. Ông Hoàng này thường đến chùa thăm viếng và tìm hiểu Phật pháp. Qua 10 năm theo thầy học đạo, ông công tử Nguyễn Phúc Ưng Đỗ đã thấm nhuần pháp Phật và xin xuất gia tr thành vị tỳ kheo, và được bổn sư Ấn Thiên - Tổ Hòa - Huệ Nhãn ban cho pháp danh là Chơn Tâm, tự Đạo Tánh, hiệu Pháp Thân.
Ngày trở về Thuận Hóa thiền sư Pháp Thân lập ngôi tự viện, lấy hiệu là Phước Huệ (chữ Phước là chữ đầu hiệu chùa bổn sư trụ trì Phước Sơn và chữ Huệ là chữ đầu đạo hiệu của bổn sư Huệ Nhãn). Chùa Phước Huệ tọa lạc tại thôn Vĩ Dạ cách kinh thành Huế 5km, chùa này đến nay vẫn còn tồn tại.
Sau ngày kiến tạo ngôi chùa Phước Huệ, tỳ kheo Pháp Thân hằng năm thường cung thỉnh bổn sư Huệ Nhãn và các huynh đệ đồng môn ra Huế thăm chùa. Trong số đó có các vị Pháp Tạng, Pháp Lâm, Pháp Hỷ, Pháp Ngãi, Pháp Ngữ... Mỗi năm viếng thăm, Thiền sư Ấn Thiên - Tổ Hòa - Huệ Nhãn cùng các môn đồ ở lại vài ba tháng để hoằng truyền chánh pháp, làm rạng danh cho giới Tăng Già Phú Yên.
Có thể nói, thiền sư Huệ Nhãn là danh tăng đức độ cao siêu, đương thời được chư sơn và tín đồ Phật tử trong tỉnh Phú Yên sùng kính mến mộ.
Trong một lần ra kinh đô thuyết pháp, thiền sư  Ấn Thiên - Tổ Hòa - Huệ Nhãn bị đắm thuyền và viên tịch vào ngày 5 tháng 4 tại Bồng Sơn, Bình Định năm 1888.
7. Tổ Sư Chơn Tín - Đạo Thành - Pháp Hỷ, nối truyền pháp phái dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 40, thế hệ thứ 7 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.  
         Thiền sư húy Chơn Tín tự Đạo Thành, hiệu Pháp Hỷ, tổ đời thứ 40 phái Lâm Tế, sinh quán tại Phú Yên là đệ tử của tổ Ấn Chánh - Tổ Tông - Huệ Minh. Tổ Huệ Minh là trụ trì tổ đình Bảo Sơn thuộc xã An Thạch huyện Tuy An. Thiền sư Pháp Hỷ nguyên là trụ trì tổ đình Linh Sơn thuộc xã An Thạch, sau ngày tổ Huệ Nhãn viên tịch, Hội đồng chư sơn tỉnh cung thỉnh thiền sư Chơn Tín - Đạo Thành - Pháp Hỷ kiêm nhiệm trụ trì và là tổ đời thứ 6 tổ đình Từ Quang. Thiền sư rất uyên thâm giáo lý Phật, tinh thông Nho giáo, là vị pháp sư nổi tiếng nhất thời bấy giờ, là thầy của nhiều vị Hòa Thượng hữu danh thuộc thế hệ kế thừa. Chính Hòa Thượng Phước Huệ là trụ trù tổ đình Thập Tháp Di Đà tại Bình Định nghe danh thiền sư, nên đã cùng với thiền sư Phổ Huệ vào tham cứu 3 năm, đến khi xong bộ kinh Lăng Nghiêm trực chỉ mới trở lại Bình Định.
Trong thời gian trụ trì tại tổ đình Từ Quang, thiền sư đã khai giới đàn để truyền giới pháp cho chư giới tử từ Thừa Thiên trở vào đàng trong. Số giới tử về thọ giới rất đông, đặc biệt có nhiều thiền sư sau này trở thành lãnh đạo cao cấp của giáo hội như Hòa Thượng Tăng Thống Thích Tịnh Khiết.
Chính thiền sư Chơn Tín – Đạo Thành - Pháp Hỷ đã xây dựng Hòa Thượng Phước Huệ trụ trì chùa Thập Tháp Di Đà ở Bình Định mà sau này thành Tăng cang Quốc sư. Thiền sư cũng đã ra Huế giảng kinh cho các lớp thiền sư ở chùa Trúc Lâm trong ấy có Hòa Thượng Viên Thành chùa Tra Am, bổn sư Hòa Thượng Trí Phủ; Hòa Thượng Tăng Thống Tịnh Khiết, lớp thứ hai là Hòa Thượng Mật Thể, Mật Nguyện, Mật Hiển, Trí Thủ, Phúc Hộ. Và lớp thứ ba có thiền sư Thiện Hoa, Thiện Hòa, Trí Tịnh, Bát Nhã …. Thiền sư còn giảng kinh cho cư sĩ Lê Đình Thám, cư sĩ Diệu Không và cho mẹ vua Bảo Đại nữa.
            Sau khi tổ Chơn Tín - Đạo Thành – Pháp Hỷ viên tịch, thừa kế trụ trì tổ đình Từ Quang là đệ thất tổ húy Chơn Thật, tự Đạo Thông, hiệu Pháp Ngãi.
            Tổ sư Chơn Thật - Đạo Thông – Pháp Ngãi, nối truyền pháp dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 40, thế hệ thứ 7 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
Tổ sinh quán tại Phú Yên, là đệ tử của tổ sư thượng Ấn hạ Thiên tự Tổ Hòa hiệu Huệ Nhãn là một vị danh tăng thời bấy giờ, các huynh đệ đồng môn của ngài là Chơn Kiêm - Pháp Lâm, Pháp Tạng, Pháp Hỷ, Pháp Ngữ. Khi thừa kế trụ trì, tổ đã thực hiện theo phương châm của Tổ Bách trượng:
            - Nhất nhựt bất tác, nhất nhật bất thực
            Vì thế tổ đã thành lập nông thiền tại tổ đình, có mua trâu bò, và nông cụ để canh tác, nhưng tổ đã viên sớm nên công trình dang dỡ. 
8. Tổ Sư Như Hương – Hòa Quang - Hòa Phước, trú trì chùa Thiên Long, nối truyền pháp phái Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 41, thế hệ thứ 8 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
Trãi qua những cuộc chiến tranh, bom đạn tàn phá những ngôi chùa cổ kính khắp cả toàn quốc nói chung, và nói riêng là những chùa đậm nét lịch sử tại tỉnh Phú Yên. Vì thế việc tìm hiểu về tiểu sử cũng như những hành trạng của chư tổ rất khó khăn. Cho nên, khi nói về thiền sư Như Hương - Hòa Quang ta không biết chính xác năm sanh, năm tịch vào năm nào, và đã có những liên hệ sư đồ như thế nào với tổ sư Chơn Thật - Đạo Thông - Pháp Ngãi, nhưng căn cứ vào 3 linh vị đang thờ tại Tổ Đình Pháp Hội, Bình Thuận đó là linh vị của 3 thiền tổ có ghi:
            * Lâm Tế chánh tôn đời 40 Chơn Thật - Đạo Thông - Pháp Ngãi Hòa Thượng.
* Lâm Tế chánh tôn đời 41 Như Hương - Hòa Quang Hòa Thượng.
* Lâm Tế chánh tôn đời 42 Thị Lạc - Hành Thiện - Hưng Từ Hòa Thượng.
Theo linh vị thờ tại chùa Pháp Hội thì nối truyền pháp phái Lâm Tế Chánh Tông đời 40, thế hệ thứ 7 dòng Lâm Tế Chúc Thánh là tổ Chơn Thật - Đạo Thông – Pháp Ngãi; Lâm Tế Chánh Tông đời 41, thế hệ thứ 7 dòng Lâm Tế Chúc Thánh là thiền sư Như Hương – Hòa Quang, và Lâm Tế Chánh Tông đời 42, thế hệ thứ 8 dòng Lâm Tế Chúc Thánh là thiền sư Thị Lạc – Hành Thiện – Hưng Từ. Trong khi trong tiểu sử của thiền sư Thị Lạc - Hành Thiện – Hưng Từ nối truyền pháp phái Lâm Tế Chánh Tông đời 42 thì nói bổn sư là Thích Hòa Phước. Như vậy, không biết thiền sư Như Hương - Hòa Quang và thiền sư Thích Hòa Phước là hai người khác nhau hay là một người: Như Hương – Hòa Quang – Hòa Phước?(6*)   
Qua bằng chứng linh vị thờ tại tổ đình Pháp Hội, ta suy đoán là tổ Như Hương – Hòa Quang và thiền sư Hòa Phước là một người. Bởi lẽ khi Ngài trú trì chùa Thiên Long, lúc đó đã quy y cho cụ bà Võ thị Biểu và ban cho pháp danh Thị Bửu là thân mẫu của chú bé Bùi Vạn An. Sau đó ngài Ngài đã thế phát xuất gia cho chú bé Bùi Vạn An lúc đó mới 7 tuổi và ban cho pháp danh là Thị Lạc, tự là Hành Thiện, hiệu là Hưng Từ. Sau nầy là thiền sư có danh tiếng Thị Lạc - Hành Thiện - Hưng Từ, và cũng là người khai sáng Tổ Đình Pháp Hội, Bình Thuận ngày nay. 
Sơ lược về chùa Thiên Long. Chùa Thiên Long (7*) nguyên là chùa Thiên Đức và chùa Long Đức sát nhập, lấy hai chữ đầu của mỗi chùa đặt tên: "Thiên Long". Chùa tọa lạc tại thôn Phú Long - xã An Mỹ - huyện Tuy An.
Đứng trên đường quốc lộ nhìn xuống hướng đông cách chừng hơn cây số thấy một tòa nhà ngói nơi đồng ruộng sát lũy tre bìa làng Phú Long. Đó là ngôi chùa Thiên Long. Khách theo đường xã lộ đến chợ Hòa Đa (Bầu Súng cũ) rẽ phải chừng 300m là đến chùa.
Chùa Thiên Đức trước kia tọa lạc vùng núi Đá Chồng dưới chân dãy Trường Sơn thuộc thôn Phú Long - xã An Mỹ, giáp ranh An Thọ, là ngôi chùa lá mái có nhà Đông, nhà Tây rất bề thế khang trang. Chùa khai sáng vào thời nào và vị tổ khai sơn là ai thì không biết được. Tất cả long vị đều bị cháy trong thời gian chiến tranh. Hiện nay khu vực chùa vắng vẻ điêu tàn, nền chỉ còn là gò đất, hai ngôi cổ tháp đã sập đổ và một ngôi nằm nghiêng vì bị đào bới.
Long Đức cũng không khác số phận của chùa Thiên Đức, là ngôi chùa làng do phật tử xây dựng từ thời Pháp thuộc. Biết là thời pháp thuộc nhưng cũng không biết chính xác là năm nào. Ban đầu mái tranh vách đất xây cất trên diện tích vườn chùa khoảng mẫu ta. 
Sau nầy do chư phật tử và tín đồ mộ đạo xin phép chính quyền sát nhập hai chùa và dời địa điểm đến giữa đồng Đá Ràn cách quốc lộ khoảng 150m về phía tây và xây chùa ngói khang trang, nhưng rồi theo thời gian chùa cũng xuống cấp. Đến năm 1938 thiền sư Thị Lạc – Hành Thiện – Hưng Từ trùng tu lại. Do vì chùa nằm giữa đồng nên trong thời kỳ chiến tranh chùa bị tình nghi và máy bay đến thả bom sập đổ sau ngày trùng tu không lâu. Pháp cổ vật của chùa còn mỗi một đại hồng chung, nguyên là của chùa Thiên Đức, đúc vào năm Quý Dậu (1933). Còn bao nhiêu tiểu sử, hành trạng của chư tổ, pháp khí cổ vật khác hoặc thất lạc, hoặc tiêu hủy trong chiến tranh. Sau đó chùa lại xây dựng lại nhưng rồi vào đêm 20-9-1966, chùa bị kẻ gian cắp mất 3 tượng Phật lâu đời bằng đồng trong đó có tượng A Di Đà cao 0m40, nặng trên 50 kg và dáng tượng ngồi. 
Năm 1995 tín đồ Phật tử (8*) được phép tái thiết lại ngôi chùa ngói theo lối cổ lầu trông xinh xắn duyên dáng. Sau một năm xây dựng, ngày 15 tháng 11 năm Bính Tý (1996) lễ an vị Phật Thế Tôn được cử hành trước sụ vui mừng của tín đồ phật tử và đồng bào.
Ngôi chùa trãi qua nhiều tang thương thăng trầm, bao nhiêu bia ký, di tích, mộc bản về chùa đều bị tiêu hủy, đó là lý do tại sao ta không biết nhiều về hành trạng của tổ Như Hương – Hòa Quang – Hòa Phước. Nhưng trong linh vị thờ tại Tổ Đình Pháp Hội, Bình Thuận ghi là nối truyền pháp phái tông môn của tổ Như Hương – Hòa Quang – Hòa Phước là thiền sư Thị Lạc – Hành Thiện – Hưng Từ.   
9. Tổ Sư Thị Lạc – Hành Thiện – Hưng Từ (1911 – 1991) là nối truyền pháp phái Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 42, thế hệ thứ 9 dòng Lâm Tế Chúc Thánh, tổ khai sơn Tổ Đình Pháp Hội, Bình Thuận.
Và là:
- Đệ Tam Tổ của Minh Sơn (Chùa Hang Minh Đức): phái Lâm Tế Chánh Tông, đời thứ 42 húy Thị Lạc – Hành Thiện, hiệu Hưng Từ.    
            C. Tổ Đình Pháp Hội Bình Thuận
            1. Tổ Khai Sơn Tổ Đình Pháp Hội, Bình Thuận
- Thị Lạc – Hành Thiện – Hưng Từ (1911 – 1991) là nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 42, thế hệ thứ 9 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
Và là:
- Đệ Tam Tổ của Minh Sơn (Chùa Hang Minh Đức): phái Lâm Tế Chánh Tông, đời thứ 42 húy Thị Lạc – Hành Thiện, hiệu Hưng Từ.    
Thiền sư Thích Hưng Từ, thế danh Bùi Vạn An, sanh ngày 01 tháng 8 năm Tân Hợi (1911) tại làng Bình Hòa, xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Ngài sanh trong một gia đình có truyền thống đạo Phật. Thân phụ Ngài là cụ Bùi thế Vĩ, pháp danh Như Chơn, thân mẫu là cụ bà Võ Thị Biểu, pháp danh Thị Bửu. Từ nhỏ ngài đã được song thân giáo dục trong tinh thần từ bi và chan chứa đức hỷ xả của nhà Phật, nên ngài sớm mộ cửa thiền.
Duyên lành đã đến, ngày mùng 08 tháng 02 năm Mậu Ngọ (1918), khi vừa bảy tuổi, Ngài được song thân cho phép xuất gia đầu sư với hòa thượng Thích Hòa Phước, trụ trì chùa Thiên Long. Được bổn sư ban cho Pháp danh Thị Lạc tự Hành Thiện, thuộc đời 42 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 9 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
Nhờ túc duyên, ngài rất thông minh đỉnh đạt. Ngay từ nhỏ, từ hai thời công phu, bốn quyển luật Tỳ Ni cho đến các bộ kinh Địa Tạng, Thủy Sám ngài đều thuộc lòng. Ngoài sự dạy dỗ của bổn sư, ngài còn được tham học giáo điển với các vị Cao Tăng như Hòa thượng Từ Pháp chùa Thiên Tôn.
Năm 20 tuổi (1931) ngài thọ Tam đàn cụ túc tại Đại giới đàn chùa Linh Sơn do Đại lão Hòa Thượng Thích Hoằng Hóa làm Đàn đầu thí giới và được Phú pháp hiệu Hưng Từ. Sau khi thụ giới cụ túc xong, ngài tiếp tục học khóa Du Già Mật Tông với Hòa thượng Linh Quang và được Hòa thượng truyền trao pháp ấn.
Năm 23 tuổi (1934) ngài được Chư tôn túc trong hội Địa Tạng Phổ lúc bấy giờ giới thiệu và gửi học Tam Tạng giáo điển tại Phật học đường Tây Thiên ở Huế trong ba năm kể từ năm 1934 - 1936. Nhờ tâm cầu học vững bền, chẳng những ngài uyên thâm kinh điển mà còn thấu triệt lý tánh diệu dụng của khoa Du Già Chẩn Tế.
Sau khi tham học với các bậc Cao Tăng ở Huế và Phú Yên xong, nhằm lúc phong trào chấn hưng Phật Giáo đang dấy lên mạnh mẽ trên khắp ba miền đất nước, ngài nhận thấy đây là một cơ duyên thuận lợi để phục hưng chánh Pháp.
Trong những năm 1936 -1940 phong trào chấn hưng Phật giáo lan rộng, nơi nơi đều có giáo lý Từ bi ban rải, ngài được Bồ tát Thích Quảng Đức mời về tham gia trong công cuộc hoạt động truyền bá Phật Pháp tại nhiều nơi. Riêng ở Khánh Hòa, đặc biệt là ở Ninh Hòa có tổ đình Sắc Tứ Thiên Tứ (Núi Đất, Địa Sơn, Mỹ Trạch). Sau đó ngài được Bồ tát Thích Quảng Đức giao trọng trách kế vị trú trì tổ đình Thiên Tứ. Còn ở Tuy An (Tuy Hòa) thì có chùa Liên Trì, chùa Cổ Lâm. Riêng hoạt động tại Núi Đất, Mỹ Trạch, Ninh Hòa trong khoảng thời gian kể trên gặp được rất nhiều thuận lợi. Tại đây đã mở nhiều khóa Trường hạ và Phật học, do ngài làm giáo thọ là Pháp sư chủ giảng, có nhiều bậc Hòa Thượng nổi tiếng sau này như Hòa Thượng Vĩnh Thọ, Nhơn Duệ, Nhơn Thị, Thủ Thiên là những học viên xuất sắc thời đó. Số Tăng tín tham gia tu học tại đây có khoảng gần 100 vị từ các tỉnh ở miền Nam và miền Trung cũng như ở tại Ninh Hòa và Khánh Hòa.
Kể từ năm 1940 trở đi, vì tình hình chính trị bất ổn, hoạt động Phật sự tại Tổ đình Sắc Tứ Thiên Tứ bị gián đoạn, các Tăng học đường tạm thời đóng cửa, nhưng ngài luôn tìm mọi cách tổ chức các lớp tu học, giảng kinh luật dưới hình thức an cư-kiết hạ. Mở Đại giới đàn ở các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận, Bình Tuy để đào tạo các bậc Tăng tài hữu ích cho Đạo sau này như các Hòa thượng Ấn Tâm, Viên Quang, Đồng Huy và giảng dạy khoa Du Già Chẩn Tế cho chư Tăng ở các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa. Đặc biệt là ở vùng đất Khánh Hòa. Vào năm 1942 ngài mở Đại giới đàn tại chùa Kim Long (Phú Hòa, Ninh Quang) do Hoà thượng Phước Huệ chùa Hải Đức, Nha Trang làm Đàn đầu. Từ đó đạo tràng lớn mạnh không ngừng.
Ngoài ra ngài còn tranh thủ thời gian để mở lớp giảng dạy khoa Du Già Chẩn Tế cho chư Tăng tại tỉnh Bình Thuận. Song song với việc giảng dạy, đào tạo Tăng Ni, ngài còn đem hết sức mình khai sơn và trùng tu rất nhiều ngôi chùa để có nơi tu học cho Tăng Ni và sớm hôm lễ bái của Phật Tử xa gần như:
- Tổ đình Sắc Tứ Thiên Tứ (1937) Núi Đất (Địa Sơn) Ninh Hòa,
- Chùa Thiên Long ở Phú Yên (1938),
- Chùa Kim Long (1942) Phú Hòa, Ninh Quang,
- Tổ đình Minh Sơn (1957),
- Chùa Linh Đài, Tuy An (1959).
- Khai sơn Linh Sơn Tự, Lạc Tánh ở Tánh Linh (1961)
- Tổ đình Pháp Hội ở Hàm Tân, Bình Thuận (1967).
Riêng Tổ đình Hội Phước từ lâu thiền sư thường thăm viếng và sách tấn chư Tăng. Ngài là Y chỉ sư của TT. Thích Quảng Thiện. Năm 1986, ngài đã quang lâm Tổ đình chứng minh, đặt đá đại trùng tu Tổ đường và năm 1989, quang lâm chứng minh, đặt đá xây dựng Liên Hoa Bảo Tháp.
2. Những Đóng Góp Cho Dân Tộc & Đạo Pháp
Trong suốt cuộc đời tu học và hành đạo, ngài không từ nan bất cứ nhiệm vụ nào khi được chư Tăng và Giáo hội giao phó cũng như Phật tử cần đến. Đối với dân tộc, ngài luôn đem hết sức mình góp phần vào công cuộc bảo vệ quê hương. Theo nhà viết sử Phật giáo triều Nguyễn cho rằng:
- Một cảnh tượng suy thoái, một giai đoạn không mấy vẻ vang khi nhìn chung đạo pháp, nhưng riêng ở Phú Yên xuất hiện rất nhiều danh tăng hoằng hóa trong tỉnh và thành đạt chứng quả ở nhiều địa phương khác... Khách quan mà nhìn nhận, ta có thể nói đây là thời kỳ có được những bước tiến khá dài trong lịch sử Phật giáo trước đây.
Từ khi hội An Nam Phật Học và hội Phật Học Trung Việt ra đời vào năm 1932 thì ở Phú Yên Hội Phật học cũng được thành lập mà thành phần của Hội là thẩm phán Trần Kỳ Quỳ quê ở xã An Dân và bác sĩ Lê Văn Kỷ, quê ở Sông Cầu. Các cố vấn của Hội Phật Học Phú Yên là thiền sư Thiền Phương (chùa Phước Sơn - Đồng Tròn) và thiền sư Phúc Hộ chùa Từ Quang.
Sau năm 1932 Tuần vũ Tôn Thất Toại chịu ảnh hưởng về cách tổ chức Phật giáo ở Huế - Thừa Thiên nên mời chư tăng thành lập Giáo Hội Tăng Già Phú Yên mà Tòng lâm Pháp chủ là Hòa Thượng Pháp Ngữ huynh đệ đồng môn với thiền sư Chơn Thật - Đạo Thông – Pháp Ngãi chùa Từ Quang (Đá Trắng), ở Tuy An.
Đến năm 1945 trong thời kỳ kháng chiến chống pháp, Hội Phật Giáo Cứu Quốc tỉnh Phú Yên ra đời mà Ban chấp hành lâm thời có ông Nguyễn Thọ Dực, nguyên là quyền Tri phủ Tuy Hòa. Tháng 3 năm 1946 Ban chấp hành chính thức gồm:
- Thiền sư Thị Lạc – Hành Thiện – Hưng Từ là Chủ tịch và Cư sĩ Nguyễn Nguyên Huân - Phó chủ tịch.
Từ đó trở đi, thiền sư dấn thân hành đạo, vào những năm:
- Năm 1955, ngài đảm nhận chức vụ tri sự trưởng Giáo hội Tăng già tỉnh Khánh Hòa liên tiếp trong hai nhiệm kỳ.
- Năm 1963-1964 ngài lãnh đạo phong trào đấu tranh bảo vệ Phật Giáo và dân tộc tỉnh Bình Tuy (Hàm Tân).
- Năm 1964-1978, ngài được Hội đồng Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất suy tôn vào Hội đồng Trưởng lão Viện Tăng Thống.
- Từ năm 1982 cho đến ngày viên tịch, ngài được suy tôn Cố vấn Chứng minh kiêm ủy viên Tăng sự Ban trị sự Tỉnh hội Phật giáo Thuận Hải (cũ) cũng chính là tên gọi tỉnh Bình Thuận trước kia và sau này, và là thành viên Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật Giáo Việt Nam.
Với đức độ, tài năng và uy tín của Ngài, nhất là ảnh hưởng từ lúc Ngài tham gia vào phong trào kháng chiến chống Pháp, sau nầy có một hòa thượng (9*) đã xử dụng tên và uy tín của ngài để hoạt động cho phong trào chống Mỹ cứu nước. Chính vì vậy mà Ngài đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc duy trì và phát triển phật sự tại Linh Sơn Tự, Lạc Tánh, Tánh Linh và Linh Sơn Trường Thọ Tự, núi Trà Cú, Bình Thuận.
Ngài đã có công dịch bộ kinh Thập Lục Quán và trước tác quyền Lịch sử Tổ Hữu Đức (Tổ linh Sơn Trường thọ, núi Tà Cú) và Chư hậu Tổ. Đặc biệt ngài đã sáng tác ra nhiều Liễn Đối hiện nay nhiều Tự viện còn lưu lại bút tích một thời vang bóng giới đức và trí đức trang nghiêm của ngài.
3. Trên Đường Hành Đạo
Là đệ tam tổ chùa Minh Sơn, trong thời gian trú trì, thiền sư Thị Lạc – Hành Thiện – Hưng Từ khởi công trùng tu tổ đình Minh Sơn (1957) và chùa Linh Đài (1959) cho đến năm  cho đến năm 1962 mới khánh thành chùa mái ngói vách gạch. Theo Nguyễn Đình Chúc và Huệ Nguyễn thì:
- Thiền sư Thị Lạc – Hành Thiện - Hưng Từ có một cách truyền thừa hơi khác. Thiền sư truyền hiền chứ không truyền cho đệ tử. Sư Tâm Thủy đệ từ của thiền sư Vạn Ân nhận chùa Minh Sơn. Sư Quảng Vân đệ tử của sư Trí Giác nhận chùa Pháp Hội ở Bình Tuy là hai ví dụ cụ thể trong đời của thiền sư Thị Lạc – Hành Thiện –  Hưng Từ.
Sau đó thiền sư vân du hoằng hóa ở phương Nam, những địa phương thiền sư đã đặt chân tới như Khánh Hòa, Ninh Thuận, rồi đến núi Trà Bang - làng Bình An - Phú Quí - Phan Rang. Sau đó, thiền sư đến vùng Vĩnh Hảo để hoằng dương Phật pháp ở vùng Phan Rang, Phan Rí, Phan Thiết, Bào Trâm gần mũi Kê Gà, rồi Hàm Tân Bình Tuy, Bình Thuận …. hoằng dương Phật pháp.
Có thể nói những nơi trước đây tổ Bảo Tạng đã từng đi qua thì sau nầy thiền sư Thị Lạc - Hành Thiện - Hưng Từ cũng đặt chân đến. Quả thật, như nói về việc thiền sư Bảo Tạng tìm được đường ngầm vào núi Trà Cú, gần Hàm Tân, Bình Thuận nơi có nhiều long mạch và vào đó tu hành sau nầy được gọi là Hang Tổ. Sau đó thiền sử Bảo Tạng rời hang tổ vân du hoằng hoá, thì thiền sư Thông Ân - Hữu Đức vào ẩn tu trong hang Tổ. 
Tương truyền thiền sư Hữu Đức cảm hóa được thú dữ, khi thiền định có hai con cọp hầu bên cạnh. Ngài tu thiền chỉ ăn rau rừng uống nước suối. Khi ra khỏi hang thì tóc râu dài. Nhiều người chí tâm muốn đến cầu học thì được cọp dẫn đường. Số người đến thăm viếng càng đông, họ cất am tranh ở gần hang Tổ để thiền sư tu hành, sau này các đệ tử xây dựng thành chùa Linh Sơn Trường Thọ, và trãi qua nhiều thay đổi của thời gian, chùa nhiều lần trùng tu nên mới được như ngày nay.
Thừa kể tổ Thông Ân - Hữu Đức là thiền sư Vĩnh Thọ, ngày xưa là học viên của thiền sư Thị Lạc – Hành Thiện – Hưng Từ, sau khi công trình tạc tượng bổn sư Niết bàn dài 49 m còn chưa hoàn chỉnh thì cuộc chiến tại miền nam trở nên khốc liệt, và thiền sư Vĩnh Thọ phải đi lánh nạn nhiều nơi, cho nên Chùa Linh Sơn Trường Thọ lúc nầy chỉ nhờ vào sự trông nom của thiền sư Thị Lạc – Hành Thiện – Hưng Từ.
Mặc dầu trong năm 1961 thiền sư Hưng Từ đã xây dựng Linh Sơn Tự, Lạc Tánh, Tánh Linh, nhưng vì phải trông nom chùa Linh Sơn Trường Thọ, núi Trà Cú, cho nên thiền sư đã uỷ nhiệm cho đệ tử là hòa thượng Thích Đồng Hương trụ trì. Bản thân thiền sư và một số đệ tử của Ngài phải cư trú tại chùa Linh Sơn Pháp Bửu Đường, Hàm Tân, Bình Tuy để tiện việc trông nom phật sự của chùa Linh Sơn Trường Thọ, núi Trà Cú.
Đến năm 1967 thiền sư đề cử ni trưởng Bổn Đại làm trú trì và khai sơn Tổ Đình Pháp Hội Bình Thuận như chúng ta đã biết.
Nhìn chung, công việc hoằng pháp tại Tỉnh Bình Thuận, kể từ khi các thiền sư: Thích Hoằng Phúc, Thích Quảng Hưng, Thích Hưng Từ đến hoằng pháp thì dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh phát triển mạnh. Tuy nhiên chỉ có sự truyền thừa của thiền sư Thị Lạc – Hành Thiện – Hưng Từ là sâu rộng hơn cả.
            4. Xả Bỏ Báo Thân
Dù tuổi già sức yếu, nhưng ngài vẫn tinh tấn tu hành không một phút giây trễ nải và phục vụ chúng sanh đến giây phút cuối cùng. Ngày mồng 02 tháng 8 năm Tân Mùi (1991), thiền sư Thị Lạc – Hành Thiện - Hưng Từ đã an nhiên thị tịch, trụ thế 81 tuổi với 61 hạ lạp, môn đồ xây thờ Bảo tháp của ngài được toạ lạc trong khuôn viên chùa Pháp Hội, thuộc huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.
Thiền sư Thị Lạc – Hành Thiện - Hưng Từ là một trong những bậc cao Tăng thạc đức của Phật Giáo Việt Nam đã trọn đời lo cho Phật Pháp và đặc biệt là ngài chú trọng đến việc tiếp Tăng độ Chúng. Cuộc đời tu hành và hóa đạo của Thiền sư là tấm gương hy sinh tận tụy, không từ nan bất cứ công việc gì dù nhỏ, đem hết sức mình để giáo huấn Tăng tín đồ Phật tử. Với đức tính khiêm cung hiếu hạnh và mô phạm cao cả của ngài là thân giáo quan trọng đã tác thành nên những đệ tử hữu danh trong giáo hội.
D. Những Đệ Tử Của Thiền Sư Thị Lạc – Hành Thiện – Hưng Từ
1. Những Đệ Tử Tăng
Là bậc tăng sĩ uyên thâm Phật pháp và khoa nghi, thiền sư là vị tôn sư mà phần lớn chư Tăng các tỉnh từ Phú Yên trở vào đều y chỉ và tu học. Hàng đệ tử xuất gia và cầu pháp với thiền sư có trên 50 vị và hiện đang là những bậc tôn túc lãnh đạo Phật giáo các tỉnh thành. Đệ tử đắc Pháp với thiền sư có pháp danh chữ Đồng, có pháp tự chữ Thông, có pháp hiệu chữ Ấn rất đông, hiện nay đang giữ nhiều chức vị quan trọng trong Giáo hội như:
1. HT Đồng Huy - Trí Thắng là thành viên Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự TWGHPGVN, Trưởng ban Trị sự Phật giáo tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu, khai sơn chùa Vạn Hạnh và Vạn Thiện tại Phú Mỹ - Tân Thành, Bà Rịa, Vũng Tàu.
2. HT Quảng Nhơn - Ấn Tâm Nguyên Chánh đại diên PGVNTN tỉnh Bình Thuận, Viện chủ chùa Long Đoàn, núi tà Cú, Hàm Thuận Nam, Bình Thuận.
3. HT Trừng Huệ - Như Ý - Ấn Bửu Phó ban Trị sự tỉnh GHPG Khánh Hòa. Khai sơn chùa Linh Sơn Pháp Bảo, Nha Trang, Khánh Hòa.
4. HT Tâm Thủy - Thiện Lưu - Ấn Thanh Trưởng ban Trị sự Phật giáo Phú Yên, kế thừa chùa Minh Sơn, Bình Kiến, Tuy Hòa, Phú Yên.
5. HT Quảng Đại - Tuệ Hải - Ấn Tạng Viện chủ Kim Liên Bửu Tự, Diên Khánh, Khánh Hòa.
6. HT Tâm Linh - Thiện Chí - Ấn Đức Viện chủ chùa Phước Thái, quận 9, Sài Gòn.
7. HT Đồng Giải - Thông Ứng - Ấn Ký kế thừa Trú trì chùa Linh Đài, xã Hòa Đa, huyện Tuy An, Phú Yên.
8. TT Nguyên Thích - Minh Mỹ - Ấn Đạo kế thừa Trú trì Tổ đình Thiên Quang, Diên Khánh, Khánh Hòa.
9. TT Chúc Thọ - Quảng Thiện - Ấn Pháp trưởng ban Từ thiện xã hội Phật giáo Khánh Hòa, Phó ban Tăng sự kiêm Viện chủ Tổ đình Sắc Tứ Hội Phước, Nha Trang, Khánh Hòa.
10. TT Nguyên Thích - Thiện Trì - Ấn Hội Trú trì chùa Phước Quang quận 3, Sài Gòn.
11. TT Tâm Huệ - Hưng Công - Ấn Đạo Trú trì chùa Sắc Tứ Kim Sơn, Ngọc Hội, Vĩnh Ngọc, Nha Trang, Khánh Hòa.
12. TT Trừng Lộc - Chơn Kiến - Ấn Minh Trú trì chùa Thiên Phú, Vĩnh Thạnh, Nha Trang, Khánh Hòa.
13. TT Nguyên Hải - Như Minh - Ấn Chánh Trú trì chùa Sắc Tứ Liên Hoa, Nha Trang, Khánh Hòa.
14. TT Thanh Trí - Thiện Qủa - Ấn Pháp Trú trì chùa Hoa Quang, Nha Trang, Khánh Hòa.
15. TT Nguyên Thắng - Từ Thành - Ấn Tín Trú trì chùa Thiền Lâm, Nha Trang, Khánh Hòa.
16. TT Thiện Tâm - Ấn Nhơn Trú trì Đạt Ma, Phan Thiết, Bình Thuận & chùa Huyền Long, La Gi, Bình Thuận.
17. TT Đồng Quan - Thông Thoại - Ấn Chánh kế thừa trú trì Tổ đình Pháp Hội, Bình Tuy.
18. TT Đồng Nguyên - Thông Thắng - Ấn Đức Trú trì chùa Thập Thành, quận Bình Thạnh, Sài Gòn.
19. TT Thiện Hoa - Ấn Quả Trú trì chùa Quan Âm, Hàm Thuận Nam, Bình Thuận.
20. TT Đồng Nghĩa - Phổ Quảng Trú trì chùa Nghĩa Trang Phật Giáo, Diên Khánh, Khánh Hòa.
21. TT Đồng Thành - Nguyên Thanh - Bảo Thiền Trú trì chùa Nguyên Phước, Nha Trang, Khánh Hòa.
22. TT Tâm Quả - Ấn Hạnh Trú trì chùa Phú quang, Tuy Hòa, Phú Yên.
23. TT Thiện Hanh - Ấn Tuệ Trú trì Tổ đình Khánh Long, Vạn Ninh, Khánh Hòa.
24. TT Đồng Trung – Thông Trí - Nhất Quán, Trú trì chùa Dược Sư, thành phố Seattle, tiểu bang Washington State - Mỹ Quốc.
25. TT Đồng Giác Trú trì chùa Vĩnh Xương, An Phú, Tuy An, Phú Yên.
26. TT Tâm Trực - Ấn Nghiêm Trú trì chùa Xuân Thọ, Phan Thiết. Kiêm Hiệu phó Trường Trung cấp Phật học Bình Thuận.
27. ĐĐ Đồng Tuyền - Thông Lưu Trú trì chùa Linh Sơn, Lạc Tánh. Tánh Linh, Bình Thuận
28. ĐĐ Đồng Biện - Thông Luận - Ấn Chơn,  Trú trì chùa Khánh Sơn, Bình Kiến, Tuy Hòa, Phú Yên
29. ĐĐ Quảng Nhàn - Thông An Trú trì chùa Cam Bình, Hàm Tân, Bình Thuận.
30. ĐĐ Đồng Tâm - Thông Trí - Pháp Huệ, Phó ban Đại diên Phật giáo thị xã La Gi, Phó trú trì Tổ đình Pháp Hội, Bình Tuy, kiêm giáo thọ Tổ đình Quán Thế Âm, quận Phú Nhuận, Sài Gòn.
31. ĐĐ Đồng Chiến - Ấn Nhựt, Phan Thiết, Bình Thuận.
32. ĐĐ Thông Thành - Ấn Tựu, chùa Bửu Thế Quan, Hàm Thuận Bắc, Bình Thuận.
33. ĐĐ Thông Giám - Ấn Bửu, Trú trì chùa Bửu Lâm, Hàm Thuận Bắc, Bình Thuận.
34. ĐĐ Nhựt Thời - Thông Hiền, Trú trì chùa Tịnh Độ, Tân An, La Gi, Bình Thuận.
35. ĐĐ Đồng Thiệt - Thông Sự.
36. ĐĐ Đồng Chánh tu học tại Trảng Bom, Đồng Nai.
37. ĐĐ Thiện Phước - Ấn Đức, tu học tại đảo Phú Quý.
38. ĐĐ Đồng Sanh - Thông Tựu - Viên Trung, Trú trì chùa Phụng Sơn, Hàm Phụng Nam, Bình Thuận.
39. ĐĐ Đồng Quan - Huệ Minh, tu học tại Anh Quốc.
40. ĐĐ thích Giác Lượng.
2. Những Đệ Tử Ni
41. Ni Trưởng Quảng Hảo - Diệu Minh - Định Quang.
42. Ni Trưởng Bổn Đại - Diệu Tài, Trú trì Niệm Phật đường Linh Sơn, Tân Thiện, La Gi, Bình Thuận.
43. Ni Sư Bổn Phước - Thông Duyên, Trú trì chùa Linh Sơn Tịnh Độ.
44. Ni Sư Thị Quang - Thông Chiếu, Trú trì chùa Linh Sơn Tịnh Độ.
45. Sư Cô Đồng Nghị, Trú trì Tịnh thất Bổn Hoàng, Tân Xuân, Hàm Tân, Bình Thuận.
46. Sư Cô Liên Nhuận - Diệu Thân đang tu học tại chùa Hội Phước.
47. Sư Cô Đồng Thủy, Trú trì chùa Quảng Phước, Tân Xuân, Hàm Tân, Bình Thuận.
48. Sư Cô Đồng Điền, Trú trì chùa Quảng Phước, Tân Xuân, hàm Tân, Bình Thuận.
3. Tóm Tắc Hệ Pháp Phái Tổ Đình Pháp Hội Bình Thuận
1. Tổ sư thượng Minh hạ Hải, tự Đắc Trí, hiệu Pháp Bảo (1670- 1746), Lâm tế Chánh Tông đời thứ 34, khai Sơn Chùa Sắc Tứ Chúc Thánh, Quảng Nam. Là sơ tổ khai sáng dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
2. Tổ sư thượng Thiệt hạ Dinh, tự Chánh Hiển, hiệu Ân Triêm (1712- 1796), nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 35, khai sơn trụ trì Chùa Sắc Tứ Phước Lâm, Quảng Nam. Là đệ nhị tổ dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
3. Tổ sư thượng Pháp hạ Chuyên, tự Luật Truyền, hiệu Diệu Nghiêm (1726 – 1798), nối truyền pháp phái Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 36, thế hệ thư 3 dòng Lâm Tế Chúc Thánh. 
4. Tổ sư thượng Toàn hạ Thể, tự Vi Lương, hiệu Linh Nguyên (1765 – 1844), nối truyền pháp pháp Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 37, thế hệ thứ 4 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
5. Tổ sư thượng Chương hạ Niệm, tự Tông Trực, hiệu Quảng Giác, nối truyền pháp phái Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 38, thế hệ thứ 5 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
6. Tổ sư thượng Ấn hạ Từ, tự Tổ Đức, hiệu Huệ Viễn & Tổ sư thượng Ấn hạ  Thiên tự Tổ Hòa, hiệu Huệ Nhãn nối truyền pháp phái Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 39, thế hệ thứ 6 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
7. Tổ sư thượng Chơn hạ Thật tự Đạo Thông, hiệu Pháp Ngãi, nối truyền pháp phái dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 40, thế hệ thứ 7 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
            8. Tổ sư thượng Như hạ Hương, tự Hòa Quang, hiệu Hòa Phước, trú trì chùa Thiên Long, nối truyền pháp phái Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 41, thế hệ thứ 8 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
9. Tổ sư thượng Thị hạ Lạc, tự Hành Thiện, hiệu Hưng Từ (1911 - 1991) nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 42, thế hệ thư 9 dòng Lâm Tế Chúc Thánh. tổ khai sơn Tổ Đình Pháp Hội, Bình Thuận.
Và là:
- Đệ Tam Tổ của chùa Minh Sơn (Chùa Hang Minh Đức): thiền phái Lâm Tế Chánh Tông, đời thứ 42 húy Thị Lạc – Hành Thiện, hiệu Hưng Từ, thế hệ thứ 9 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.    
10. Hòa Thượng thượng Đồng hạ Quan, tự Thông Thoại, hiệu Ấn Chánh, nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh, đệ nhị đại trú trì Tổ Đình Pháp Hội, Bình Thuận.
Đồng Một Thế Hệ Với Hòa Thượng Thích Ấn Chánh Là:
01. HT thượng Đồng hạ Huy, hiệu Trí Thắng(1920 – 2010), nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
02. HT thượng Quảng hạ Nhơn, hiệu Ấn Tâm, nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
03. HT thượng Trừng hạ Huệ, Như Ý, hiệu Ấn Bửu(1934 -2019), nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh
04. HT thượng Tâm hạ Thủy, tự Thiện Lưu, hiệu Ấn Thanh, nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh
05. HT thượng Quảng hạ Đại, tự Tuệ Hải, hiệu Ấn Tạng, nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
06. HT thượng Tâm hạ Linh, tự Thiện Chí, hiệu Ấn Đức, nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
07. HT thượng Đồng hạ Giải, tự Thông Ứng, hiệu Ấn Ký, nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
08. TT thượng Nguyên hạ Thích, tự Minh Mỹ, hiệu Ấn Đạo, nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
09. TT thượng Chúc hạ Thọ, tự Quảng Thiện, hiệu Ấn Pháp, nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
10. TT thượng Nguyên hạ Thích, tự Thiện Trì, hiệu Ấn Hội, nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
11. TT thượng Tâm hạ Huệ, tự Hưng Công, hiệu Ấn Đạo, nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
12. TT thượng Trừng hạ Lộc, tự Chơn Kiến, hiệu Ấn Minh, nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
13. TT thượng Nguyên hạ Hải, tự Như Minh, hiệu Ấn Chánh, nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
14. TT thượng Thanh hạ Trí, tự Thiện Quả, hiệu Ấn Pháp, nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
15. TT thượng Nguyên hạ Thắng, tự Từ Thành, hiệu Ấn Tín, nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
16. HT thượng Thiện hạ Tâm, hiệu Ấn Nhơn, nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
18. HT. thượng Đồng hạ Nguyên, tự Thông Thắng, hiệu Ấn Đức, nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
19. TT thượng Thiện hạ Hoa, hiệu Ấn Quả, nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
20. TT thượng Đồng hạ Nghĩa, hiệu Phổ Quảng, nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
21. TT thượng Đồng hạ Thành, tự Nguyên Thanh, hiệu Bảo Thiền, nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
22. TT thượng Tâm hạ Quả, hiệu Ấn Hạnh, nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
23. TT thượng Thiện hạ Hanh, hiệu Ấn Tuệ, nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
24. TT thượng Đồng hạ Trung, tự Thông Trí, hiệu Nhất Quán, nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
25. TT thượng Đồng hạ Giác, nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
26. TT thượng Tâm hạ Trực, hiệu Ấn Nghiêm, nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
27. ĐĐ Thích Đồng Tuyền, tự Thông Lưu, nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
28. ĐĐ Thích Đồng Biện, tự Thông Luận, nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
29. ĐĐ Thích Quảng Nhàn, tụ Thông An, nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
30. ĐĐ Thích Đồng Tâm, tự Thông Trí, hiệu Pháp Huệ, nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
31. ĐĐ Thích Đồng Chiến, hiệu Ấn Nhựt, nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
32. ĐĐ Thích Thông Thành, hiệu Ấn Tựu, nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
33. ĐĐ Thích Thông Giám, hiệu Ấn Bửu, nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
34. ĐĐ Thích Nhựt Thời, tự Thông Hiền, nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
35. ĐĐ Thích Đồng Thiệt, tự Thông Sự. nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
36. ĐĐ Thích Đồng Chánh. nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
37. ĐĐ Thích Thiện Phước, hiệu Ấn Đức, nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
38. ĐĐ Thích Đồng Sanh, tự Thông Tựu, hiệu Viên Trung, nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
39. ĐĐ Thích Đồng Quan, hiệu Huệ Minh, nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
40. ĐĐ Thích Giác Lượng. nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
2. Những Đệ Tử Ni
41. Ni Trưởng Thượng Quảng hạ Hảo, tự Diệu Minh, hiệu Định Quang. nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
42. Ni Trưởng thượng Bổn hạ Đại, tự Diệu Tài, nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
43. Ni Sư thượng Bổn hạ Phước, tự Thông Duyên, nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
44. Ni Sư thượng Thị hạ Quang, tự Thông Chiếu, nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
45. Sư Cô Thích Đồng Nghị, nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
46. Sư Cô Thích Liên Nhuận, tự Diệu Thân, nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
47. Sư Cô Thích Đồng Thủy, nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
48. Sư Cô Thích Đồng Điền, nối truyền pháp Lâm Tế Chánh Tông đời 43, thế hệ thứ 10 dòng Lâm Tế Chúc Thánh.
Nhận xét về cuộc đời và sự nghiệp hoằng pháp vĩ đại của thiền sư Thị Lạc - Hành Thiện - Hưng Từ, Hòa thượng Thích Huệ Đăng đã viết:
Thiền Sư tuy là sinh quán ở Phú Yên nhưng lại là vị thượng thủ đầu tiên của Giáo hội Tăng già tỉnh Khánh Hòa, do chư Tôn đức Tăng cung thỉnh suốt 2 nhiệm kỳ. Vào thời kỳ đó chưa có một vị HT nào trong tỉnh được vinh dự như vậy. Nhớ kỳ chấn hưng, thiền sư đã kế tục các vị HT tiền bối, ra sức cổ xúy phong trào đổi mới, động viên hướng dẫn chư Tăng trong sự nghiệp tinh tấn tu học và hoằng dương Phật Pháp.
Thiền sư thường nhắc nhở chư Tăng:
- Phật Pháp nhị bửu, Nhi tại Tăng hoằng.
Nghĩa là:
- Phật, Pháp là hai ngôi báu, nhưng nhờ chư Tăng truyền mở.
Hay câu:
- Nhơn năng hành đạo, Phi đạo hằng nhơn
Nghĩa là:
- Con người hay truyền mở Đạo Pháp, chẳng phải Đạo Pháp truyền mở cho người.
Kể từ khi Thiền sư vào quận Ninh Hòa trú trì Tổ đình Sắc Tứ Thiên Tứ, chùa Kim Long (Ninh Hòa) rồi khai đàn truyền giới làm HT Đàn đầu, rồi sau đó làm vị Thượng thủ Giáo hội Tăng già Khánh Hòa, tiếp theo nhiều năm làm phật sự 2 tỉnh Khánh Hòa và Phú Yên, kế đến thiền sư vào Bình thuận và Bình Tuy khai sơn 2 chùa Linh Sơn và Pháp Hội cho đến ngày già yếu từ biệt chúng con về Tịnh Độ, ngài luôn luôn lấy việc giáo dục, sách tấn chư Tăng làm công việc chính.
Thiền sư là một người có học lực hết sức uyên bác về nội điển, về Hán học, đặc biệt nhất là về Mật tông. Từ đăng đàn thuyết pháp, giải giảng kinh, luật, luận đến đăng đàn Chấn Tế Du già, Mông Sơn, Ứng phú khoa nghi. Thanh quy tiết thứ, Thiền môn chánh độ, thiền đường quy củ, Đại học hằng giới, nhẫn đến môn công vụ, Chấp tác hành trì bất cứ phương diện nào, thiền sư cũng thông suốt sự lý và hành trì rất hay.
Phàm vị Tăng có duyên được nghe thiền sư giảng kinh thuyết pháp, chẩn tế, ứng cúng các khoa nghi đều hết sức hoan hỷ và khâm phục tài năng uyên bác của ngài. Thiền sư lại từ bi lân mẫn thương mến chư Tăng, Ni, không phân biệt tuổi tác, địa phương, hoàn cảnh hành đạo, hễ có người nào cần thiền sư đều hoan hỷ dạy bảo, hướng dẫn sách tấn với tất cả tấm lòng khoan dung, nhân từ, cần mẫn hết sức chỉ dẫn đến nơi đến chốn.
Vì vậy, đa số chư Tăng ở 3 tỉnh Phú yên, Khánh Hòa và Bình thuận đều tôn kính ngài, thương mến ngài như vị cha lành. Thiền sư là vị Tôn sư được nhiều chư Tôn Thượng tọa, Đại đức cầu pháp và trong số những vị cầu pháp với thiền sư ngày trước, hiện nay đã được chư Tăng tôn vinh hay Giáo hội tấn phong Hòa thượng. Đây là niềm vui cao quý của chư Tăng, niềm vinh dự tự hào của hàng tín đồ Phật tử và cũng là công đức giáo dưỡng vô cùng to lớn của thiền sư Thị Lạc – Hành Thiện – Hưng Từ.
 
            III. Kết Luận
Thiền phái Lâm Tế là một trong những chi nhánh của những dòng thiền tại Trung Hoa. Nhưng khi truyền vào Việt Nam, những năm cuối thế kỷ XVII thuộc Phật Giáo Đàng Trong, tại chùa Chúc Thánh tỉnh Quảng Nam, và có tên là Lâm Tế Chúc Thánh, người khai sáng dòng thiền nầy là Tổ sư Minh Hải - Pháp Bảo. Vì thế, dòng Thiền này còn có tên gọi khác là Thiền Phái Minh Hải - Pháp Bảo.
Kể từ khi Tổ sư Minh Hải khai sơn xuất kệ truyền thừa, Thiền phái Chúc Thánh đã trải qua trên 300 năm hình thành và phát triển. Trong suốt chuỗi thời gian song hành cùng dân tộc, các Thiền sư thuộc Thiền Phái Lâm Tế Chúc Thánh đã đem ý chỉ của chư Tổ truyền bá khắp mọi nơi và đóng góp vào lịch sử Phật Giáo Việt Nam những trang sử vàng son châu ngọc.
Với tư tưởng phóng khoáng của tông Lâm Tế, cộng với nếp sống giản dị, thanh cao, các Thiền sư dòng Lâm Tế Chúc Thánh gần gũi với mọi người dân nên dễ dàng tiếp cận đi sâu vào lòng quần chúng. Trước hết là tại Quảng Nam, thời bấy giờ, dân Quảng Nam phần lớn là dân di cư từ Bắc vào. Từ lâu họ đã sống trong tư tưởng gò bó của Nho giáo nên rất chán ngán. Nay có một trào lưu mới với những tư tưởng phóng khoáng, không câu nệ tiểu tiết, lại tôn trọng nhân phẩm, quyền bình đẳng của con người, nên họ nhanh chóng tiếp nhận. Sự giản dị trong cách sống, chân tình trong giao tiếp của các Thiền sư nơi đất Quảng tạo nên sự gần gũi thân mật dễ dàng hòa nhập cùng cộng đồng. Nhất là tinh thần Phật Giáo phát triển đến đâu là mang tinh thần hòa bình đến đó:
- Hộ quốc an dân.
Đây là tôn chỉ xuyên suốt trong lịch sử 2000 năm truyền đạo trên đất Việt. Tôn chỉ của Thiền Phái Chúc Thánh cũng không ra ngoài nguyên tắc bất di bất dịch ấy. Vì thế, ngay từ những ngày đầu truyền pháp, Thiền sư Minh Hải – Pháp Bảo cũng đã phần nào khẳng định tôn chỉ ấy qua hai câu kệ sau:
            - Chúc thánh thọ thiên cửu
             Kỳ quốc tộ địa trường.
            Nghĩa là:
- Chúc thánh quân sống lâu
Và vận nước vững bền.
Sự khẳng định nầy, chúng ta thấy có sự gắn liền giữa Đạo pháp và Dân tộc. Đây chính là chất liệu kết nối Tăng sĩ với các tầng lớp dưới thì từ sĩ, nông, công thương; trên thì đến công, hầu, khanh, tướng. Đó là lý do giải thích tại sao tinh thần của đạo Phật dễ dàng đi sâu vào quần chúng.
Với tư tưởng thông thoáng như thế, các Thiền sư dòng Lâm Tế Chúc Thánh có pháp môn tu phù hợp với điều kiện xã hội. Sự vận dụng kết hợp Thiền -Tịnh song tu đã đem lại sự lợi lạc cho hành giả và tha nhân. Về tự thân, các Thiền sư đạt được sự an lạc do thiền định đem lại, thân tâm an lạc, nội lực tăng trưởng nên thấy rõ thật tướng của mọi sự, mọi việc. Với pháp môn Tịnh Độ, các Ngài đã giúp cho dân chúng ổn định tinh thần, có một niềm tin hướng về Tam Bảo. Đặc biệt, với lâm lý của những người mới di cư từ miền Bắc vào vùng đất Quảng Nam cũng như các tỉnh miền Trung và miền Nam, miền Tây Nam bộ lúc bấy giờ, tín ngưỡng Di Đà, quy kính Tịnh Độ là chỗ dựa tinh thần vững chắc, an ổn nơi những vùng đất mới định cư, nhưng tương lai đầy hứa hẹn nầy.
Ngoài việc tu hành chứng ngộ tâm linh, các Thiền sư dòng Chúc Thánh chủ trương nhập thế tích cực với tinh thần vô nhiễm. Điều này được thể hiện qua cuộc đời của Thiền sư Pháp Liêm, thế hệ thứ 3 dòng Chúc Thánh. Sau khi xuất gia, Ngài về quê đăng lính đánh giặc lập nhiều công to được phong chức chỉ huy. Nhưng Ngài từ bỏ tất cả, phát nguyện quét chợ Hội An suốt 20 năm. Về sau, Ngài được triều đình và dân chúng suy tôn hiệu là Minh Giác Thiền Sư, thỉnh về kế nghiệp trụ trì Tổ đình Phước Lâm.
Tiếp nối gương của bậc cổ đức, các thế hệ tăng đồ dòng Chúc Thánh luôn nhiệt tâm tham gia vào các phong trào cứu quốc, đấu tranh đòi độc lập cho Tổ quốc và tự do cho Dân tộc, mà qua đó, tiêu biểu là thiền sư Thị Lạc – Hành Thiền – Hưng Từ trong vai trò chủ tịch trong những năm tham gia hoạt động kháng chiến chống Pháp cứu nước. Sau 1945 thời kỳ kháng chiến chống pháp đã qua, hòa bình trở về với đất nước, ngài trở lại chùa trong vai trò của một thiền sư tiếp tăng độ chúng, không màng đến thế sự.
Nhìn một một cách xuyên suốt, tôn chỉ và mục đích hành đạo của thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh kể từ ngày Tổ sư khai sơn cho đến nay vẫn không thay đổi. Nhập thế tích cực cứu đời nhưng vẫn thong dong tự tại trước mọi lợi danh. Tùy duyên hành đạo và bất biến giữ đạo luôn được áp dụng tùy từng hoàn cảnh đã thể hiện được bản hoài của người con Phật.
Với những nguyên nhân trên, cho nên dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh nhanh chóng phát triển tại Quảng Nam, Huế, Đà Nẳng, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận, … Hay nói cách khác, những ảnh hưởng của dòng Thiền Lâm Tế Chúc Thánh, khởi đầu từ Hội An, Quảng Nam và đã ảnh hưởng đến sự sinh hoạt của các tỉnh phụ cận, rồi có mặt khắp các tỉnh miền Trung, và lan rộng theo bước chân Nam tiến vào đến miền Gia Định và Nam Việt Nam và miền Tây Nam bộ. Không những thế, Thiền phái này ngày nay, thậm chí còn phát triển mạnh tại các nước Mỹ Châu, Âu Châu, Úc Châu và Phi Châu ... 
IV. Hình Ảnh Tiêu Biểu Một Vài Tổ Đình Của Dòng Lâm Tế Chúc Thánh & Tổ Đình Pháp Hội
            1- Tổ Đình Pháp Hội, Bình Thuận
            Phường Tân An Thị Xã La Gi, Tỉnh Bình Thuận
            HT. Đồng Quan - Thông Thoại - Ấn Chánh kế thừa trú trì Tổ Đình Pháp Hội, Bình Thuận
 
 
            2- Tổ Đình Long Đoàn, núi Tà Cú, Hàm Thuận Nam, Bình Thuận
            HT. Quảng Nhơn - Ấn Tâm Nguyên Chánh đại diên PGVNTN tỉnh Bình Thuận, Viện chủ chùa Long Đoàn, núi tà Cú, Hàm Thuận Nam, Bình Thuận.
            3- Chùa Linh Sơn Pháp Bảo, Nha Trang
            HT. Trừng Huệ - Như Ý - Ấn Bửu Phó ban Trị sự tỉnh GHPG Khánh Hòa. Khai sơn chùa Linh Sơn Pháp Bảo, Nha Trang, Khánh Hòa.
            4. Chùa Minh Sơn, Tuy Hòa, Phú Yên
            HT. Tâm Thủy - Thiện Lưu - Ấn Thanh Trưởng ban Trị sự Phật giáo Phú Yên, kế thừa chùa Minh Sơn, Bình Kiến, Tuy Hòa, Phú Yên.
            5. Chùa Sắc tứ Phước Hội Nha Trang
            TT Chúc Thọ - Quảng Thiện - Ấn Pháp trưởng ban Từ thiện xã hội Phật giáo Khánh Hòa, Phó ban Tăng sự kiêm Viện chủ Tổ đình Sắc Tứ Hội Phước, Nha Trang, Khánh Hòa.
            6. Chùa Đạt Ma Phan Thiết, Bình Thuận
            TT Thiện Tâm - Ấn Nhơn Trú trì chùa Đạt Ma, Phan Thiết & Ch ùa Huyền Long, La Gi, Bình Thuận.
            7- Chùa Tập Thành, Bình Thạnh, Sài Gòn
            TT Đồng Nguyên - Thông Thắng - Ấn Đức Trú trì chùa Thập Thành, quận Bình Thạnh, Sài Gòn.
            8- Chùa Dược Sư & Chùa Dược Sư Vạn Phật.
            TT Đồng Trung – Thông Trí - Nhất Quán, Trú trì chùa Dược Sư, thành phố Seattle, tiểu bang Washington State - Mỹ Quốc.
            - Bàn tổ, chánh điện và bên ngoài chùa Dược Sư thành lập năm 1996 tại thành phố Seattle, tiểu bang Washington State.
            - Bàn tổ, chánh điện và bên ngoài của chùa Dược Sư Vạn Phật, xây dựng năm 2012 tại thành phố Seattle, tiểu bang Washington State.
        Ghi Chú:
01. Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Nguyễn Lang, tập II, trang 99, Lá Bối Xuất Bản.
02. Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Nguyễn Lang, tập II, trang 145 và 146, Lá Bối Xuất Bản.
03. Việt Nam Phật Giáo Sử Lược, Thích Mật Thể, trang 189
04. Lược Sử Phật Giáo & Các Chùa Phú Yên, Nguyễn Đình Chúc, Huệ Nguyễn
05. Cội Nguồn Truyền Thừa Của Chúc Thánh, Thích Phổ Tịnh, trang 329 & Tổ Đình Từ Quang, Phú Yên, Lược Sử Phật Giáo & Các Chùa Phú Yên, Nguyễn Đình Chúc.
            06. Có lẽ chư Hòa thượng Ấn Chánh, Tâm Thủy, Quảng Thiện biết rõ về thiền sư Như Hương – Hòa Quang – Hòa Phước.
07. Theo Lược Sử Phật Giáo & Các Chùa Phú Yên, Nguyễn Đình Chúc
08. Vào năm 1997 chúng tôi có cơ duyên gặp phật tử Bùi thị Bích Thủy, pháp danh Đồng nguyệt là cháu kêu thiền sư Thị Lạc - Hành Thiện - Hưng Từ bằng chú ruột cho biết là gia đình cô đã gởi về cho người anh ruột cô ta là phật tử Đồng Hỷ một số tiền lớn để lo trùng tu lại ngôi chùa Thiên Long.
09. Sau ngày đất nước hòa bình, vào năm 1977 vào dịp đi làm lễ An vị Phật của một gia đình là phật tử Chùa Long Huê sinh sống tại Biên Hòa, lúc đó Tôi có gặp một Hòa thượng (không biết tên, cũng không dám hỏi). Trong lúc nói chuyện, khi biết tôi là đệ tử của thiền sư Hưng Từ thì Ngài cười và nói: 
- Tôi đã dùng uy tín của Ngài trong việc cứu nước, nên làm cho Ngài phải khổ sở nhiều bề.
Tài Liệu Tham Khảo
- Việt Nam Phật Giáo Sử Lược, Thích Mật Thể.
            - Việt Nam Phật Giáo Sư/Luận, Nguyễn Lang, NXB Lá Bối
            - Trung Hoa Chư Thiền Đức Hành Trạng, Thích Thanh Từ, NXB Phật Học Viện Quốc Tế, Hoa Kỳ.
            - Thiền Học Việt Nam, Nguyễn Đăng Thục, NXB Phật Học Viện Quốc Tế, Hoa Kỳ.
            - Thiền Sư Việt Nam, Thích Thanh Từ, NXB Thành Hội Phật Giáo TP Hồ Chí Minh
            - Lịch Sử Phật Giáo Trung Quốc, NXB Phú Lâu Na Tùng Thư.
--o0o--